Surah Al-FurqanBegins here at 25:21
-
25:21
۞ وَقَالَ ٱلَّذِينَ لَا يَرْجُونَ لِقَآءَنَا لَوْلَآ أُنزِلَ عَلَيْنَا ٱلْمَلَـٰٓئِكَةُ أَوْ نَرَىٰ رَبَّنَا ۗ لَقَدِ ٱسْتَكْبَرُوا۟ فِىٓ أَنفُسِهِمْ وَعَتَوْ عُتُوًّا كَبِيرًا
Waq̣aalal laẓeena laa- yarjoona Liq̣aaaʹanaa Law-laaa ʹuñzila ʻalaynal malaaaʹikatu ʹaw naraa Rabbanaa? Laq̣adis takbaroo feee ʹañfusihim wa-ʻataw ʻutuwwañ kabeeraa!
Những kẻ không hy vọng gặp TA (ở Đời Sau) nói: “Đáng lẽ ra phải có Thiên Thần nào đó được cử xuống cho bọn ta hoặc bọn ta phải nhìn thấy Thượng Đế của mình, (như thế mới hợp lý chứ).” Quả thật, họ đã tự cao và tự đại quá mức.
-
25:22
يَوْمَ يَرَوْنَ ٱلْمَلَـٰٓئِكَةَ لَا بُشْرَىٰ يَوْمَئِذٍ لِّلْمُجْرِمِينَ وَيَقُولُونَ حِجْرًا مَّحْجُورًا
Yawma yarawnal malaaaʹikata laa- bushraa Yawmaʹiẓil lil-mujrimeena wa-yaq̣ooloona ḥijram maḥjooraa!
Vào ngày mà họ sẽ thấy các Thiên Thần, đó là ngày mà những kẻ tội lỗi sẽ không được một tin vui nào và các Thiên Thần sẽ bảo họ: “Dang ra, hãy dang ra xa!”
-
25:23
وَقَدِمْنَآ إِلَىٰ مَا عَمِلُوا۟ مِنْ عَمَلٍ فَجَعَلْنَـٰهُ هَبَآءً مَّنثُورًا
Wa-q̣adimnaaa ʹilaa maa- ʻamiloo min ʻamaliñ fajaʻalnaahu habaaaʹam mañs̤ooraa.
Và TA sẽ xét lại mọi việc mà họ đã làm, tất cả đều bị TA biến nó thành tro bụi bay tứ tán.
-
25:24
أَصْحَـٰبُ ٱلْجَنَّةِ يَوْمَئِذٍ خَيْرٌ مُّسْتَقَرًّا وَأَحْسَنُ مَقِيلًا
ʹAṣḥaabul Jannati Yawmaʹiẓin khayrum mustaq̣arrañw waʹaḥsanu maq̣eelaa.
Vào ngày đó, những cư dân của Thiên Đàng (những người có đức tin) sẽ có một chỗ ngụ tốt đẹp và một nơi nghỉ tuyệt vời.
-
25:25
وَيَوْمَ تَشَقَّقُ ٱلسَّمَآءُ بِٱلْغَمَـٰمِ وَنُزِّلَ ٱلْمَلَـٰٓئِكَةُ تَنزِيلًا
Wa-Yawma tashaq̣q̣aq̣us samaaaʹu bilg̣amaami wa-nuzzilal malaaaʹikatu tañzeelaa,
Và vào Ngày mà bầu trời và những đám mây sẽ bị tách ra, rồi các Thiên Thần sẽ được cử xuống đông đảo.
-
25:26
ٱلْمُلْكُ يَوْمَئِذٍ ٱلْحَقُّ لِلرَّحْمَـٰنِ ۚ وَكَانَ يَوْمًا عَلَى ٱلْكَـٰفِرِينَ عَسِيرًا
ʹAlmulku Yawmaʹiẓinil ḥaq̣q̣u lir-Raḥmaan: wa-kaana Yawman ʻalal kaafireena ʻaseeraa.
Vương quyền đích thực của Ngày hôm đó thuộc về một mình Đấng Độ Lượng, và đó là ngày đầy khó khăn và khốn khổ cho những kẻ vô đức tin.
-
25:27
وَيَوْمَ يَعَضُّ ٱلظَّالِمُ عَلَىٰ يَدَيْهِ يَقُولُ يَـٰلَيْتَنِى ٱتَّخَذْتُ مَعَ ٱلرَّسُولِ سَبِيلًا
Wa-Yawma yaʻaḍḍuz̤̣ z̤̣aalimu ʻalaa yadayhi yaq̣oolu yaa-laytanit takhaẓtu maʻar Rasooli sabeelaa!
Và vào Ngày mà kẻ làm điều sai quấy sẽ vừa cắn đầu ngón tay vừa than thở (trong hối tiếc): “Ôi giá như mình đã đi theo con đường cùng với Thiên Sứ (Muhammad).”
-
25:28
يَـٰوَيْلَتَىٰ لَيْتَنِى لَمْ أَتَّخِذْ فُلَانًا خَلِيلًا
Yaa-waylataa laytanee lam ʹattakhiẓ fulaanan khaleelaa!
“Ôi thật khốn khổ thay, ước gì mình đừng làm bạn với kẻ đó!”
-
25:29
لَّقَدْ أَضَلَّنِى عَنِ ٱلذِّكْرِ بَعْدَ إِذْ جَآءَنِى ۗ وَكَانَ ٱلشَّيْطَـٰنُ لِلْإِنسَـٰنِ خَذُولًا
Laq̣ad ʹaḍallanee ʻaniẓ Ẓikri baʻda ʹiẓ jaaaʹanee! Wa-kaanash Shayṭaanu lil-ʹiñsaani khaẓoolaa!
“Quả thật, chính hắn đã đưa mình lạc khỏi Thông Điệp Nhắc Nhở sau khi mình đã tiếp thu Nó, quả thật Shaytan chính là một tên phản bội loài người.”
-
25:30
وَقَالَ ٱلرَّسُولُ يَـٰرَبِّ إِنَّ قَوْمِى ٱتَّخَذُوا۟ هَـٰذَا ٱلْقُرْءَانَ مَهْجُورًا
Wa-q̣aalar Rasoolu yaa-Rabbi ʹinna q̣awmit takhaẓoo haaẓal Q̣urʹaana mahjooraa.
Và Thiên Sứ (Muhammad) nói: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, quả thật người dân của bề tôi đã xao lãng Qur’an này!”
-
25:31
وَكَذَٰلِكَ جَعَلْنَا لِكُلِّ نَبِىٍّ عَدُوًّا مِّنَ ٱلْمُجْرِمِينَ ۗ وَكَفَىٰ بِرَبِّكَ هَادِيًا وَنَصِيرًا
Wa-kaẓaalika jaʻalnaa likulli nabiyyin ʻaduwwam minal mujrimeen: wa-kafaa bi-Rabbika Haadiyañw Wa-Naṣeeraa.
Như thế đó, TA đã lập cho mỗi vị Nabi một số kẻ thù trong đám người tội lỗi, nhưng Thượng Đế của Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) đủ làm một Vị Hướng Dẫn và một Vị Cứu Tinh (cho Ngươi).
-
25:32
وَقَالَ ٱلَّذِينَ كَفَرُوا۟ لَوْلَا نُزِّلَ عَلَيْهِ ٱلْقُرْءَانُ جُمْلَةً وَٰحِدَةً ۚ كَذَٰلِكَ لِنُثَبِّتَ بِهِۦ فُؤَادَكَ ۖ وَرَتَّلْنَـٰهُ تَرْتِيلًا
Wa-q̣aalal laẓeena kafaroo law-laa nuzzila ʻalayhil Q̣urʹaanu jumlatañw Waaḥidah? Kaẓaalika linus̤abbita bihee fuʹaadaka wa-rattalnaahu tarteelaa.
Những kẻ vô đức tin bảo: “Đáng lẽ ra Qur’an nên được mặc khải cho Y trong một lần mới đúng!” (TA mặc khải xuống) như thế là để TA củng cố tấm lòng của Ngươi (Muhammad); và TA đọc Nó dần dần theo từng giai đoạn.
-
25:33
وَلَا يَأْتُونَكَ بِمَثَلٍ إِلَّا جِئْنَـٰكَ بِٱلْحَقِّ وَأَحْسَنَ تَفْسِيرًا
Wa-laa yaʹtoonaka bimas̤alin ʹillaa jiʹnaaka bil-Ḥaq̣q̣i wa-ʹaḥsana tafseeraa.
Không một hình ảnh thí dụ nào do chúng mang đến hỏi Ngươi mà TA lại không mang sự thật và lời giải thích tốt đẹp nhất đến cho Ngươi (để đối đáp với họ).
-
25:34
ٱلَّذِينَ يُحْشَرُونَ عَلَىٰ وُجُوهِهِمْ إِلَىٰ جَهَنَّمَ أُو۟لَـٰٓئِكَ شَرٌّ مَّكَانًا وَأَضَلُّ سَبِيلًا
ʹAllaẓeena yuḥsharoona ʻalaa wujoohihim ʹilaa Jahannama ʹulaaaʹika sharrum makanañw waʹaḍallu Sabeelaa.
Những kẻ bị tập trung úp mặt xuống để tống vào Hỏa Ngục là những kẻ có nơi ở xấu xa nhất và là những kẻ ở trên con đường lầm lạc.
-
25:35
وَلَقَدْ ءَاتَيْنَا مُوسَى ٱلْكِتَـٰبَ وَجَعَلْنَا مَعَهُۥٓ أَخَاهُ هَـٰرُونَ وَزِيرًا
Wa-laq̣ad ʹaataynaa Moosal Kitaaba wa-jaʻalnaa maʻahooo ʹakhaahu Haaroona Wazeeraa;
Quả thật, TA đã ban Kinh Sách cho Musa và TA đã chỉ định người anh em của Y, Harun, làm một người phò tá cho Y.
-
25:36
فَقُلْنَا ٱذْهَبَآ إِلَى ٱلْقَوْمِ ٱلَّذِينَ كَذَّبُوا۟ بِـَٔايَـٰتِنَا فَدَمَّرْنَـٰهُمْ تَدْمِيرًا
Faq̣ulnaẓ habaaa ʹilal q̣awmil laẓeena kaẓẓaboo biʹAayaatinaa: fadammarnaahum tadmeeraa.
TA đã phán bảo (cả hai): “Hai ngươi hãy ra đi gặp đám người đã phủ nhận những Phép Lạ của TA.” (Nhưng đám người đó đã phủ nhận hai người họ) nên TA đã tiêu diệt tất cả bọn chúng.
-
25:37
وَقَوْمَ نُوحٍ لَّمَّا كَذَّبُوا۟ ٱلرُّسُلَ أَغْرَقْنَـٰهُمْ وَجَعَلْنَـٰهُمْ لِلنَّاسِ ءَايَةً ۖ وَأَعْتَدْنَا لِلظَّـٰلِمِينَ عَذَابًا أَلِيمًا
Wa-q̣awma Nooḥil lammaa kaẓẓabur rusula ʹag̣raq̣naahum wa-jaʻalnaahum linnaasi ʹAayah; wa-ʹaʻtadnaa liz̤̣z̤̣aalimeena ʻAẓaaban ʹaleemaa;
Người dân của Nuh, khi họ cho những Thiên Sứ (của TA) nói dối, TA đã nhấn chìm họ dưới nước và lấy họ làm một bài học cảnh cáo nhân loại. Và TA đã chuẩn bị cho những kẻ làm điều sai quấy hình phạt đau đớn.
-
25:38
وَعَادًا وَثَمُودَا۟ وَأَصْحَـٰبَ ٱلرَّسِّ وَقُرُونًۢا بَيْنَ ذَٰلِكَ كَثِيرًا
Wa-ʻAadañw Wa-S̤amooda wa-ʹAṣḥaabar Rassi wa-q̣uroonam bayna ẓaalika kas̤eeraa.
Dân ‘Ad, dân Thamud, dân Rass và nhiều thế hệ giữa họ cũng đã chịu số phận tương tự.
-
25:39
وَكُلًّا ضَرَبْنَا لَهُ ٱلْأَمْثَـٰلَ ۖ وَكُلًّا تَبَّرْنَا تَتْبِيرًا
Wa-kullañ ḍarabnaa lahul ʹams̤aala wa-kullañ tabbarnaa tatbeeraa.
TA đã trình bày cho mỗi thế hệ những hình ảnh thí dụ và TA đã tiêu diệt từng thế hệ một cách khủng khiếp.
-
25:40
وَلَقَدْ أَتَوْا۟ عَلَى ٱلْقَرْيَةِ ٱلَّتِىٓ أُمْطِرَتْ مَطَرَ ٱلسَّوْءِ ۚ أَفَلَمْ يَكُونُوا۟ يَرَوْنَهَا ۚ بَلْ كَانُوا۟ لَا يَرْجُونَ نُشُورًا
Wa-laq̣ad ʹataw ʻalal q̣aryatil lateee ʹumṭirat maṭaras sawʹ: ʹafalam yakoonoo yarawnahaa? Bal kaanoo laa- yarjoona Nushooraa.
Quả thật họ (những người Quraish) đã đi ngang qua một thị trấn bị tàn phá bởi một trận mưa hiểm ác. Thế, họ đã không từng nhìn thấy nó hay sao? Không, họ không mong được phục sinh trở lại (cho việc xét xử).
-
25:41
وَإِذَا رَأَوْكَ إِن يَتَّخِذُونَكَ إِلَّا هُزُوًا أَهَـٰذَا ٱلَّذِى بَعَثَ ٱللَّهُ رَسُولًا
Wa-ʹiẓaa raʹawka ʹiñy yattakhiẓoonaka illaa huzuwaa:˹ ʹahaaẓal laẓee baʻas̤al laahu rasoolaa?
Khi thấy Ngươi, họ chỉ chế giễu Ngươi, họ thường bảo: “Lẽ nào đây là kẻ mà Allah cử đến làm Thiên Sứ cho bọn mình chăng?”
-
25:42
إِن كَادَ لَيُضِلُّنَا عَنْ ءَالِهَتِنَا لَوْلَآ أَن صَبَرْنَا عَلَيْهَا ۚ وَسَوْفَ يَعْلَمُونَ حِينَ يَرَوْنَ ٱلْعَذَابَ مَنْ أَضَلُّ سَبِيلًا
ʹIñ kaada layuḍillunaa ʻan ʹaalihatinaa Law-laaa ʹañ ṣabarnaa ʻalayhaa!˺ Wa-sawfa yaʻlamoona ḥeena yarawnal ʻAẓaaba man ʹaḍallu Sabeelaa!
“Quả thật, suýt nữa thì Y đã làm cho bọn mình từ bỏ những thần linh của bọn mình mất rồi nếu như bọn mình không thực sự kiên trì với các đấng ấy.” Rồi đây khi đối diện với sự trừng phạt thì họ sẽ biết ai thực sự mới là kẻ đã lầm lạc.
-
25:43
أَرَءَيْتَ مَنِ ٱتَّخَذَ إِلَـٰهَهُۥ هَوَىٰهُ أَفَأَنتَ تَكُونُ عَلَيْهِ وَكِيلًا
ʹAraʹayta manit takhaẓa ʹilaahahoo hawaah? ʹA-faʹañta takoonu ʻalayhi wakeelaa?
Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) có thấy kẻ đã lấy dục vọng của mình làm thần linh của y hay không? Lẽ nào Ngươi sẽ là người chịu trách nhiệm cho việc làm của y?!
-
25:44
أَمْ تَحْسَبُ أَنَّ أَكْثَرَهُمْ يَسْمَعُونَ أَوْ يَعْقِلُونَ ۚ إِنْ هُمْ إِلَّا كَٱلْأَنْعَـٰمِ ۖ بَلْ هُمْ أَضَلُّ سَبِيلًا
ʹAm taḥsabu ʹanna ʹaks̤arahum yasmaʻoona ʹaw yaʻq̣iloon? ʹIn hum ʹillaa kal-ʹanʻaami bal hum ʹaḍallu Sabeelaa.
Lẽ nào Ngươi nghĩ đa số bọn họ nghe hoặc hiểu ư? Họ thật ra chẳng khác nào súc vật; không, họ thậm chí còn tệ hơn.
-
25:45
أَلَمْ تَرَ إِلَىٰ رَبِّكَ كَيْفَ مَدَّ ٱلظِّلَّ وَلَوْ شَآءَ لَجَعَلَهُۥ سَاكِنًا ثُمَّ جَعَلْنَا ٱلشَّمْسَ عَلَيْهِ دَلِيلًا
ʹAlam tara ʹilaa Rabbika kayfa maddaz̤̣- Z̤̣ill! Wa-law shaaaʹa lajaʻalahoo saakinaa! S̤umma jaʻalnash shamsa ʻalayhi daleelaa;
Lẽ nào Ngươi đã không nhìn thấy việc Thượng Đế của Ngươi đã kéo dài cái bóng như thế nào ư? Nếu muốn, Ngài có thể làm cho nó đứng yên tại chỗ. Nhưng rồi TA đã dùng mặt trời làm một chỉ điểm cho nó (khiến nó thay đổi dài ngắn khác nhau).
-
25:46
ثُمَّ قَبَضْنَـٰهُ إِلَيْنَا قَبْضًا يَسِيرًا
S̤umma q̣abaḍnaahu ʹilaynaa q̣abḍañy yaseeraa.
Rồi TA dần dần thu nó (cái bóng) lại một cách đơn giản (qua sự lên cao của mặt trời).
-
25:47
وَهُوَ ٱلَّذِى جَعَلَ لَكُمُ ٱلَّيْلَ لِبَاسًا وَٱلنَّوْمَ سُبَاتًا وَجَعَلَ ٱلنَّهَارَ نُشُورًا
Wa-Huwal laẓee jaʻala lakumul Layla libaasañw wan-Nawma subaatañw wajaʻalan Nahaara Nushooraa.
Ngài (Allah) là Đấng đã làm cho các ngươi ban đêm thành một tấm phủ, giấc ngủ thành một sự nghỉ ngơi và ban ngày thành (thời gian lý tưởng) để hoạt động cho cuộc sống.
-
25:48
وَهُوَ ٱلَّذِىٓ أَرْسَلَ ٱلرِّيَـٰحَ بُشْرًۢا بَيْنَ يَدَىْ رَحْمَتِهِۦ ۚ وَأَنزَلْنَا مِنَ ٱلسَّمَآءِ مَآءً طَهُورًا
Wa-Huwal laẓeee ʹarsalar Riyaaḥa bushram bayna yaday Raḥmatih, wa-ʹañzalnaa minas samaaaʹi maaaʹañ ṭahooraa,
Ngài là Đấng đã gởi những luồng gió làm tín hiệu báo trước cơn mưa của Ngài sắp đến. Và TA ban từ trên trời xuống nguồn nước tinh khiết.
-
25:49
لِّنُحْـِۧىَ بِهِۦ بَلْدَةً مَّيْتًا وَنُسْقِيَهُۥ مِمَّا خَلَقْنَآ أَنْعَـٰمًا وَأَنَاسِىَّ كَثِيرًا
Linuḥyiya bihee baldatam maytañw wanusq̣iyahoo mimmaa khalaq̣naaa ʹanʻaamañw Waʹanaasiyya kas̤eeraa.
Để TA dùng nó làm sống lại lớp đất chết khô và để giải khát động vật và loài người trong số tạo vật mà TA đã tạo ra rất nhiều.
-
25:50
وَلَقَدْ صَرَّفْنَـٰهُ بَيْنَهُمْ لِيَذَّكَّرُوا۟ فَأَبَىٰٓ أَكْثَرُ ٱلنَّاسِ إِلَّا كُفُورًا
Wa-laq̣ad ṣarrafnaahu baynahum liyaẓẓakkaroo, faʹabaaa ʹaks̤arun naasi ʹillaa kufooraa.
Quả thật, TA đã phân phối số nước đó giữa họ để họ biết ghi nhớ, nhưng đa số nhân loại thường vô ơn.
-
25:51
وَلَوْ شِئْنَا لَبَعَثْنَا فِى كُلِّ قَرْيَةٍ نَّذِيرًا
Wa-law shiʹnaa labaʻas̤naa fee kulli q̣aryatin naẓeeraa.
Nếu muốn, TA có thể cử đến với mỗi thị trấn một người Cảnh Báo.
-
25:52
فَلَا تُطِعِ ٱلْكَـٰفِرِينَ وَجَـٰهِدْهُم بِهِۦ جِهَادًا كَبِيرًا
Falaa tuṭiʻil kaafireena wa-jaahidhum̃ bihee jihaadañ kabeeraa.
Bởi thế, Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) chớ nghe theo những kẻ vô đức tin mà hãy dùng Qur’an đấu tranh chống lại họ bằng một cuộc đấu tranh mạnh mẽ.
-
25:53
۞ وَهُوَ ٱلَّذِى مَرَجَ ٱلْبَحْرَيْنِ هَـٰذَا عَذْبٌ فُرَاتٌ وَهَـٰذَا مِلْحٌ أُجَاجٌ وَجَعَلَ بَيْنَهُمَا بَرْزَخًا وَحِجْرًا مَّحْجُورًا
Wa-Huwal laẓee marajal baḥrayni haaẓaa ʻaẓbuñ furaatuñw wahaaẓaa milḥun ʹujaaj; wa-jaʻala baynahumaa Barzakhañw Waḥijram maḥjooraa.
Ngài là Đấng đã làm cho hai biển nước tự do chảy, một loại là nước ngọt dễ uống và một loại là nước mặn và chát. Ngài đã dựng một bức chắn tách biệt giữa chúng không cho chúng trộn lẫn với nhau.
-
25:54
وَهُوَ ٱلَّذِى خَلَقَ مِنَ ٱلْمَآءِ بَشَرًا فَجَعَلَهُۥ نَسَبًا وَصِهْرًا ۗ وَكَانَ رَبُّكَ قَدِيرًا
Wa-Huwal laẓee khalaq̣a minal maaaʹi basharañ fajaʻalahoo nasabañw waṣihraa: wa-kaana Rabbuka Q̣adeeraa.
Ngài là Đấng đã tạo hóa con người từ nước (tinh dịch), rồi Ngài thiết lập cho y mối quan hệ ruột thịt, mối quan hệ hôn nhân. Và Thượng Đế của Ngươi là Đấng Toàn Năng.
-
25:55
وَيَعْبُدُونَ مِن دُونِ ٱللَّهِ مَا لَا يَنفَعُهُمْ وَلَا يَضُرُّهُمْ ۗ وَكَانَ ٱلْكَافِرُ عَلَىٰ رَبِّهِۦ ظَهِيرًا
Wa-yaʻbudoona miñ doonil laahi maa laa- yañfaʻuhum wa-laa yaḍurruhum: wa-kaanal kaafiru ʻalaa Rabbihee z̤̣aheeraa!
Nhưng họ lại tôn thờ ngoài Allah những vật không giúp ích cũng như không gây hại được họ; và kẻ vô đức tin luôn (đi theo Shaytan) chống đối lại Thượng Đế của y.
-
25:56
وَمَآ أَرْسَلْنَـٰكَ إِلَّا مُبَشِّرًا وَنَذِيرًا
Wa-maaa ʹarsalnaaka ʹillaa mubashshirañw wanaẓeeraa.
TA (Allah) cử Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) đến chỉ để làm một người báo tin mừng và một người cảnh báo.
-
25:57
قُلْ مَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ إِلَّا مَن شَآءَ أَن يَتَّخِذَ إِلَىٰ رَبِّهِۦ سَبِيلًا
Q̣ul maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajrin ʹillaa mañ shaaaʹa ʹañy yattakhiẓa ʹilaa Rabbihee Sabeelaa.
Ngươi hãy nói (với họ): “Ta không đòi các người trả công cho Ta về sứ mạng này ngoại trừ việc ai tự nguyện chọn lấy con đường đi đến với Thượng Đế của y.”
-
25:58
وَتَوَكَّلْ عَلَى ٱلْحَىِّ ٱلَّذِى لَا يَمُوتُ وَسَبِّحْ بِحَمْدِهِۦ ۚ وَكَفَىٰ بِهِۦ بِذُنُوبِ عِبَادِهِۦ خَبِيرًا
Wa-tawakkal ʻalal Ḥayyil laẓee laa- yamootu wa-sabbiḥ bi-Ḥamdih; wa-kafaa bihee biẓunoobi ʻibaadihee khabeeraa;
Ngươi hãy phó thác cho Đấng Hằng Sống không bao giờ chết và Ngươi hãy tán dương ca tụng Ngài; và chỉ riêng Ngài đủ biết rõ tội lỗi của đám bầy tôi của Ngài.
-
25:59
ٱلَّذِى خَلَقَ ٱلسَّمَـٰوَٰتِ وَٱلْأَرْضَ وَمَا بَيْنَهُمَا فِى سِتَّةِ أَيَّامٍ ثُمَّ ٱسْتَوَىٰ عَلَى ٱلْعَرْشِ ۚ ٱلرَّحْمَـٰنُ فَسْـَٔلْ بِهِۦ خَبِيرًا
ʹAllaẓee khalaq̣as samaawaati wal-ʹarḍa wa-maa baynahumaa fee sittati ʹayyaamiñ s̤umma stawaa ʻalal ʻArsh, ʹAr-Raḥmaanu fasʹal bihee khabeeraa.
Ngài là Đấng đã tạo các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất trong sáu ngày rồi an vị trên chiếc Ngai Vương; Ngươi hãy hướng về Đấng Độ Lượng mà hỏi, Ngài thông toàn tất cả.
-
25:60
وَإِذَا قِيلَ لَهُمُ ٱسْجُدُوا۟ لِلرَّحْمَـٰنِ قَالُوا۟ وَمَا ٱلرَّحْمَـٰنُ أَنَسْجُدُ لِمَا تَأْمُرُنَا وَزَادَهُمْ نُفُورًا ۩
Wa-ʹiẓaa q̣eela lahumus judoo lir-Raḥmaani q̣aaloo wa-mar Raḥmaan? ʹAnasjudu limaa taʹmurunaa wa-zaadahum nufooraa.
Khi có lời bảo họ: “Các người hãy phủ phục Đấng Độ Lượng”, họ đáp: “Nhưng Đấng Độ Lượng là ai? Bọn ta sẽ phải quỳ lạy Đấng mà Ngươi truyền lệnh cho bọn ta hay sao?” Và điều đó càng làm cho họ thêm xa lánh (đức tin nơi Allah).
-
25:61
تَبَارَكَ ٱلَّذِى جَعَلَ فِى ٱلسَّمَآءِ بُرُوجًا وَجَعَلَ فِيهَا سِرَٰجًا وَقَمَرًا مُّنِيرًا
Tabaarakal laẓee jaʻala fis samaaaʹi Buroojañw Wajaʻala feehaa siraajañw waq̣amaram muneeraa!
Hồng phúc thay Đấng đã tạo ra các chùm sao trên trời và tạo ra trong đó mặt trời chiếu sáng và mặt trăng mang ánh hào quang.
-
25:62
وَهُوَ ٱلَّذِى جَعَلَ ٱلَّيْلَ وَٱلنَّهَارَ خِلْفَةً لِّمَنْ أَرَادَ أَن يَذَّكَّرَ أَوْ أَرَادَ شُكُورًا
Wa-Huwal laẓee jaʻalal layla wannahaara khilfatal liman ʹaraada ʹañy yaẓẓakkara aw ʹaraada shukooraa.
Ngài là Đấng đã làm ra ban đêm và ban ngày luân chuyển tiếp nối nhau để cho ai muốn tụng niệm hoặc muốn tạ ơn (ân huệ của Ngài).
-
25:63
وَعِبَادُ ٱلرَّحْمَـٰنِ ٱلَّذِينَ يَمْشُونَ عَلَى ٱلْأَرْضِ هَوْنًا وَإِذَا خَاطَبَهُمُ ٱلْجَـٰهِلُونَ قَالُوا۟ سَلَـٰمًا
Wa-ʻibaadur Raḥmaanil laẓeena yamshoona ʻalal ʹarḍi hawnañw waʹiẓaa khaaṭabahumul jaahiloona q̣aaloo ˹Salaamaa!˺
Những người bề tôi của Đấng Độ Lượng là những ai đi lại trên mặt đất với điệu bộ khiêm tốn và khi bị người thiếu hiểu biết gây sự thì họ chỉ nói: “Xin cho được bằng an.”
-
25:64
وَٱلَّذِينَ يَبِيتُونَ لِرَبِّهِمْ سُجَّدًا وَقِيَـٰمًا
Wallaẓeena yabeetoona li-Rabbihim sujjadañw waq̣iyaamaa;
Họ là những người thức đêm quỳ lạy và đứng cầu nguyện Thượng Đế của họ.
-
25:65
وَٱلَّذِينَ يَقُولُونَ رَبَّنَا ٱصْرِفْ عَنَّا عَذَابَ جَهَنَّمَ ۖ إِنَّ عَذَابَهَا كَانَ غَرَامًا
Wallaẓeena yaq̣ooloona Rabbanaṣ rif ʻannaa ʻAẓaaba Jahannama ʹinna ʻAẓaabahaa kaana g̣araamaa,
Họ là những người thường cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài đưa bầy tôi ra xa khỏi hình phạt của Hỏa Ngục. Quả thật, sự trừng phạt nơi Hỏa Ngục là một sự trừng phạt dai dẳng.”
-
25:66
إِنَّهَا سَآءَتْ مُسْتَقَرًّا وَمُقَامًا
ʹInnahaa saaaʹat mustaq̣arrañw wamuq̣aamaa.
Quả thật Hỏa Ngục là một nơi cư ngụ và là một nơi nghỉ vô cùng tồi tệ.
-
25:67
وَٱلَّذِينَ إِذَآ أَنفَقُوا۟ لَمْ يُسْرِفُوا۟ وَلَمْ يَقْتُرُوا۟ وَكَانَ بَيْنَ ذَٰلِكَ قَوَامًا
Wallaẓeena ʹiẓaaa ʹañfaq̣oo lam yusrifoo wa-lam yaq̣turoo wa-kaana bayna ẓaalika q̣awaamaa.
Họ (những bề tôi của Allah) là những người khi tiêu dùng (tài sản của họ cho con đường chính nghĩa của Allah) thì không phung phí cũng không keo kiệt mà giữ mức trung bình giữa hai thái cực đó.
-
25:68
وَٱلَّذِينَ لَا يَدْعُونَ مَعَ ٱللَّهِ إِلَـٰهًا ءَاخَرَ وَلَا يَقْتُلُونَ ٱلنَّفْسَ ٱلَّتِى حَرَّمَ ٱللَّهُ إِلَّا بِٱلْحَقِّ وَلَا يَزْنُونَ ۚ وَمَن يَفْعَلْ ذَٰلِكَ يَلْقَ أَثَامًا
Wallaẓeena laa- yadʻoona maʻal laahi ʹilaahan ʹaakhara wa-laa yaq̣tuloonan nafsal latee ḥarramal laahu ʹillaa bilḥaq̣q̣i wa-laa yaznoon; wa-mañy yafʻal ẓaalika yalq̣a ʹas̤aamaa,
Họ là những người không cầu nguyện bất cứ thần linh nào khác cùng với Allah cũng không giết một sinh mạng vô tội trừ phi với lý do chính đáng; họ không làm điều Zina; và ai vi phạm những điều đó đáng bị tội.
-
25:69
يُضَـٰعَفْ لَهُ ٱلْعَذَابُ يَوْمَ ٱلْقِيَـٰمَةِ وَيَخْلُدْ فِيهِۦ مُهَانًا
Yuḍaaʻaf lahul ʻAẓaabu Yawmal Q̣iyaamati wa-yakhlud feehee muhaanaa,
Vào Ngày Tận Thế, sự trừng phạt được tăng gấp đôi và y sẽ phải mãi mãi chịu sự trừng phạt đó một cách nhục nhã.
-
25:70
إِلَّا مَن تَابَ وَءَامَنَ وَعَمِلَ عَمَلًا صَـٰلِحًا فَأُو۟لَـٰٓئِكَ يُبَدِّلُ ٱللَّهُ سَيِّـَٔاتِهِمْ حَسَنَـٰتٍ ۗ وَكَانَ ٱللَّهُ غَفُورًا رَّحِيمًا
ʹIllaa mañ taaba wa-ʹaamana wa-ʻamila ʻamalañ ṣaaliḥañ faʹulaaaʹika yubaddilul laahu sayyiʹaatihim ḥasanaat: wa-kaanal laahu G̣afoorar Raḥeemaa.
Ngoại trừ những ai biết ăn năn sám hối, có đức tin và hành thiện thì họ sẽ được Allah thay thế tội lỗi của họ bằng điều phúc đức bởi Allah hằng tha thứ, Đấng Nhân Từ.
-
25:71
وَمَن تَابَ وَعَمِلَ صَـٰلِحًا فَإِنَّهُۥ يَتُوبُ إِلَى ٱللَّهِ مَتَابًا
Wa-mañ taaba wa-ʻamila ṣaaliḥañ faʹinnahoo yatoobu ʹilal laahi mataabaa.
Những ai ăn năn sám hối và siêng năng hành đạo và làm điều thiện tốt thì sự hối cải của y với Allah mới là thật lòng.
-
25:72
وَٱلَّذِينَ لَا يَشْهَدُونَ ٱلزُّورَ وَإِذَا مَرُّوا۟ بِٱللَّغْوِ مَرُّوا۟ كِرَامًا
Wallaẓeena laa- yashhadoonaz zoora wa-ʹiẓaa marroo billag̣wi marroo kiraamaa.
Họ (những bề tôi của Allah) là những người không làm chứng cho điều giả dối, và khi đi ngang qua những chuyện tầm phào thì họ bỏ đi một cách lịch sự.
-
25:73
وَٱلَّذِينَ إِذَا ذُكِّرُوا۟ بِـَٔايَـٰتِ رَبِّهِمْ لَمْ يَخِرُّوا۟ عَلَيْهَا صُمًّا وَعُمْيَانًا
Wallaẓeena ʹiẓaa ẓukkiroo biʹAayaati Rabbihim lam yakhirroo ʻalayhaa ṣummañw waʻumyaanaa.
Họ là những người khi được nhắc về những Lời Mặc Khải của Thượng Đế của họ thì họ không gục đầu tỏ vẻ tai điếc mắt mù.
-
25:74
وَٱلَّذِينَ يَقُولُونَ رَبَّنَا هَبْ لَنَا مِنْ أَزْوَٰجِنَا وَذُرِّيَّـٰتِنَا قُرَّةَ أَعْيُنٍ وَٱجْعَلْنَا لِلْمُتَّقِينَ إِمَامًا
Wallaẓeena yaq̣ooloona Rabbanaa hab lanaa min ʹazwaajinaa wa-ẓurriyaatinaa q̣urrata ʹaʻyuniñw waj-ʻalnaa lil-Muttaq̣eena ʹImaamaa.
Họ là những người thường cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài làm cho vợ và con cái của bầy tôi thành một nguồn vui cho cặp mắt của bầy tôi, xin Ngài hãy để bầy tôi thành người lãnh đạo mẫu mực cho những người ngay chính.”
-
25:75
أُو۟لَـٰٓئِكَ يُجْزَوْنَ ٱلْغُرْفَةَ بِمَا صَبَرُوا۟ وَيُلَقَّوْنَ فِيهَا تَحِيَّةً وَسَلَـٰمًا
ʹUlaaaʹika yujzawnal g̣urfata bimaa ṣabaroo wa-yulaq̣q̣awna feehaa taḥiyyatañw wasalaamaa,
Những người đó sẽ được ban thưởng một nơi ở cao sang (Thiên Đàng) vì đã từng kiên nhẫn chịu đựng. Nơi đó, họ sẽ được đón chào tốt đẹp với lời chúc bằng an.
-
25:76
خَـٰلِدِينَ فِيهَا ۚ حَسُنَتْ مُسْتَقَرًّا وَمُقَامًا
Khaalideena feehaa; ḥasunat mustaq̣arrañw wamuq̣aamaa!
Họ sẽ ở trong đó mãi mãi, một nơi ngụ và một nơi nghỉ tốt đẹp nhất.
-
25:77
قُلْ مَا يَعْبَؤُا۟ بِكُمْ رَبِّى لَوْلَا دُعَآؤُكُمْ ۖ فَقَدْ كَذَّبْتُمْ فَسَوْفَ يَكُونُ لِزَامًۢا
Q̣ul maa- yaʻbaʹu bikum Rabbee Law-laa duʻaaaʹukum: faq̣ad kaẓẓabtum fasawfa yakoonu lizaamaa!
Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy nói (với những kẻ vô đức tin): “Nếu không vì lời cầu nguyện của các người thì Thượng Đế của Ta đã không quan tâm đến các người. Quả thật, các người đã phủ nhận (Ngài) nên rồi đây các người sẽ phải đối mặt (với sự trừng phạt của Ngài).”
Surah Ash-Shu'araBegins here at 26:1
-
26:1
طسٓمٓ
Ṭaa-Seeen-Meeem.
Ta. Sin. Mim.[1]
-
26:2
تِلْكَ ءَايَـٰتُ ٱلْكِتَـٰبِ ٱلْمُبِينِ
Tilka ʹAayaatul Kitaabil mubeen.
Đó là những Câu Kinh của một Kinh Sách minh bạch (không mơ hồ và thần bí).
-
26:3
لَعَلَّكَ بَـٰخِعٌ نَّفْسَكَ أَلَّا يَكُونُوا۟ مُؤْمِنِينَ
Laʻallaka baakhiʻun nafsaka ʹallaa yakoonoo Muʹmineen.
Có lẽ Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) khổ tâm, đau buồn khiến bản thân chết dần chết mòn về việc họ không có đức tin.
-
26:4
إِن نَّشَأْ نُنَزِّلْ عَلَيْهِم مِّنَ ٱلسَّمَآءِ ءَايَةً فَظَلَّتْ أَعْنَـٰقُهُمْ لَهَا خَـٰضِعِينَ
ʹIn nashaʹ nunazzil ʻalayhim minas samaaaʹi ʹAayatañ faz̤̣allat ʹaʻnaaq̣uhum lahaa khaaḍiʻeen.
Nếu muốn, TA (Allah) có thể ban một phép lạ từ trên trời xuống khiến họ cúi cổ thần phục, (nhưng TA không làm thế vì để thử thách họ xem họ có tin vào điều vô hình hay không).
-
26:5
وَمَا يَأْتِيهِم مِّن ذِكْرٍ مِّنَ ٱلرَّحْمَـٰنِ مُحْدَثٍ إِلَّا كَانُوا۟ عَنْهُ مُعْرِضِينَ
Wa-maa yaʹteehim miñ Ẓikrim minar Raḥmaani muḥdas̤in ʹillaa kaanoo ʻanhu muʻriḍeen.
Bất cứ điều nhắc nhở nào được ban xuống cho họ từ Đấng Độ Lượng, họ đều quay lưng bỏ đi.
-
26:6
فَقَدْ كَذَّبُوا۟ فَسَيَأْتِيهِمْ أَنۢبَـٰٓؤُا۟ مَا كَانُوا۟ بِهِۦ يَسْتَهْزِءُونَ
Faq̣ad kaẓẓaboo fasayaʹteehim ʹambaaaʹu maa- kaanoo bihee yastahziʹoon!
Quả thật, họ đã phủ nhận (những điều mà Thiên Sứ của họ đã mang đến), rồi đây họ sẽ nhận được tin về những điều mà họ đã từng chế giễu.
-
26:7
أَوَلَمْ يَرَوْا۟ إِلَى ٱلْأَرْضِ كَمْ أَنۢبَتْنَا فِيهَا مِن كُلِّ زَوْجٍ كَرِيمٍ
ʹA-walam yaraw ʹilal ʹarḍi kam ʹambatnaa feehaa miñ kulli zawjiñ kareem?
Lẽ nào họ đã không quan sát trái đất, nơi mà TA đã làm mọc ra biết bao cây cối tốt lành?
-
26:8
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong đó là một bằng chứng (cho việc TA thừa khả năng làm người chết sống lại), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:9
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:10
وَإِذْ نَادَىٰ رَبُّكَ مُوسَىٰٓ أَنِ ٱئْتِ ٱلْقَوْمَ ٱلظَّـٰلِمِينَ
Wa-ʹiẓ naadaa Rabbuka Moosaaa ʹaniʹ til q̣awmaz̤̣ z̤̣aalimeen,
(Ngươi hãy nhớ lại) khi Thượng Đế của Ngươi gọi Musa phán bảo: “Ngươi hãy đi gặp một đám người làm điều sai quấy.”
-
26:11
قَوْمَ فِرْعَوْنَ ۚ أَلَا يَتَّقُونَ
Q̣awma Firʻawn: ʹalaa yattaq̣oon?
“Đó là đám người của Pha-ra-ông. (Ngươi hãy bảo) họ sợ (Allah).”
-
26:12
قَالَ رَبِّ إِنِّىٓ أَخَافُ أَن يُكَذِّبُونِ
Q̣aala Rabbi ʹinneee ʹakhaafu ʹañy yukaẓẓiboon:
(Musa) thưa: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi thực sự lo sợ rằng họ sẽ cho bề tôi nói dối.”
-
26:13
وَيَضِيقُ صَدْرِى وَلَا يَنطَلِقُ لِسَانِى فَأَرْسِلْ إِلَىٰ هَـٰرُونَ
Wa-yaḍeeq̣u ṣadree wa-laa yañṭaliq̣u lisaanee faʹarsil ʹilaa Haaroon.
“Và lồng ngực của bề tôi thì chật hẹp, chiếc lưỡi của bề tôi thì nói không lưu loát, xin Ngài cử thêm Harun làm phò tá cho bề tôi.”
-
26:14
وَلَهُمْ عَلَىَّ ذَنۢبٌ فَأَخَافُ أَن يَقْتُلُونِ
Wa-lahum ʻalayya ẓambuñ faʹakhaafu ʹañy yaq̣tuloon.
“Bề tôi đã phạm tội với họ (vì đã lỡ tay giết chết một người của họ) nên bề tôi sợ họ sẽ giết bề tôi.”
-
26:15
قَالَ كَلَّا ۖ فَٱذْهَبَا بِـَٔايَـٰتِنَآ ۖ إِنَّا مَعَكُم مُّسْتَمِعُونَ
Q̣aala kallaa! faẓhabaa biʹAayaatinaaa ʹinnaa maʻakum mustamiʻoon.
(Allah) phán bảo (Musa và Harun): “Sẽ không sao, hai ngươi cứ lên đường với những Phép Lạ của TA. Quả thật TA sẽ ở cùng với hai ngươi, TA luôn nghe thấy tất cả.”
-
26:16
فَأْتِيَا فِرْعَوْنَ فَقُولَآ إِنَّا رَسُولُ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Faʹtiyaa Firʻawna faq̣oolaaa ʹinnaa Rasoolu Rabbil ʻaalameen,
“Hai Ngươi cứ đi gặp Pha-ra-ông, hai ngươi hãy nói với y: Chúng tôi là Thiên Sứ của Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
-
26:17
أَنْ أَرْسِلْ مَعَنَا بَنِىٓ إِسْرَٰٓءِيلَ
ʹAn ʹarsil maʻanaa Baneee ʹIsraaaʹeel.
“Xin ngài hãy để con cháu Israel ra đi với chúng tôi.”
-
26:18
قَالَ أَلَمْ نُرَبِّكَ فِينَا وَلِيدًا وَلَبِثْتَ فِينَا مِنْ عُمُرِكَ سِنِينَ
Q̣aala ʹalam nurabbika feenaa waleedañw walabis̤ta feenaa min ʻumurika sineen?
(Pha-ra-ông) bảo (Musa): “Há ta đã không thương yêu và nuôi nấng Ngươi như con cái hay sao? Chẳng phải Ngươi đã ở với ta nhiều năm trong đời Ngươi hay sao?”
-
26:19
وَفَعَلْتَ فَعْلَتَكَ ٱلَّتِى فَعَلْتَ وَأَنتَ مِنَ ٱلْكَـٰفِرِينَ
Wa-faʻalta faʻlatakal latee faʻalta wa-ʹañta minal kaafireen!
“Vậy mà Ngươi đã nhẫn tâm làm một việc đáng lẽ ra Ngươi không nên làm, Ngươi là một tên vong ơn bội nghĩa.”
-
26:20
قَالَ فَعَلْتُهَآ إِذًا وَأَنَا۠ مِنَ ٱلضَّآلِّينَ
Q̣aala faʻaltuhaaa ʹiẓañw Waʹana minaḍ ḍaaalleen.
(Musa) nói (với Pha-ra-ông): “Tôi đã làm điều đó lúc tôi là kẻ không biết gì (vì chưa nhận được sự mặc khải của Allah).”
-
26:21
فَفَرَرْتُ مِنكُمْ لَمَّا خِفْتُكُمْ فَوَهَبَ لِى رَبِّى حُكْمًا وَجَعَلَنِى مِنَ ٱلْمُرْسَلِينَ
Fafarartu miñkum lam-maa khiftukum fawahaba lee Rabbee ḥukmañw wajaʻalanee minal mursaleen.
“Vì sợ ngài nên Tôi đã bỏ trốn đi xa và Thượng Đế của Tôi đã ban cho Tôi sự khôn ngoan và cử Tôi làm Thiên Sứ (của Ngài).”
-
26:22
وَتِلْكَ نِعْمَةٌ تَمُنُّهَا عَلَىَّ أَنْ عَبَّدتَّ بَنِىٓ إِسْرَٰٓءِيلَ
Wa-tilka niʻmatuñ tamunnuhaa ʻalayya ʹan ʻabbatta Baneee ʹIsraaaʹeel!
“Đấy là ân xưa mà ngài đã nại ra để khiển trách Tôi rồi đã bắt người dân Israel làm nô lệ.”
-
26:23
قَالَ فِرْعَوْنُ وَمَا رَبُّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Q̣aala Firʻawnu wa-maa Rabbul ʻaalameen?
Pha-ra-ông hỏi (Musa): “Thế Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật là gì?”
-
26:24
قَالَ رَبُّ ٱلسَّمَـٰوَٰتِ وَٱلْأَرْضِ وَمَا بَيْنَهُمَآ ۖ إِن كُنتُم مُّوقِنِينَ
Q̣aala Rabbus samaawaati wal-ʹarḍi wa-maa baynahumaa, ʹiñ kuñtum Mooq̣ineen.
(Musa) đáp: “Là Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và vạn vật giữa trời đất, nếu quí ngài muốn có đức tin vững chắc (nơi Ngài thì quí ngài hãy chỉ thờ phượng một mình Ngài thôi).”
-
26:25
قَالَ لِمَنْ حَوْلَهُۥٓ أَلَا تَسْتَمِعُونَ
Q̣aala liman ḥawlahooo ʹalaa tastamiʻoon?
(Pha-ra-ông) nói với các cận thần: “Các khanh có nghe rõ (lời bịa đặt của Musa) chăng?”
-
26:26
قَالَ رَبُّكُمْ وَرَبُّ ءَابَآئِكُمُ ٱلْأَوَّلِينَ
Q̣aala Rabbukum wa-Rabbu ʹaabaaaʹikumul ʹawwaleen!
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của quí ngài và cả tổ tiên của quí ngài nữa.”
-
26:27
قَالَ إِنَّ رَسُولَكُمُ ٱلَّذِىٓ أُرْسِلَ إِلَيْكُمْ لَمَجْنُونٌ
Q̣aala ʹinna rasoolakumul laẓeee ʹursila ʹilaykum lamajnoon!
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn Thiên Sứ được gởi đến cho các ngươi là một tên điên!”
-
26:28
قَالَ رَبُّ ٱلْمَشْرِقِ وَٱلْمَغْرِبِ وَمَا بَيْنَهُمَآ ۖ إِن كُنتُمْ تَعْقِلُونَ
Q̣aala Rabbul mashriq̣i wal-mag̣ribi wa-maa baynahumaa! ʹiñ kuñtum taʻq̣iloon!
(Musa) nói tiếp: “Đó là Thượng Đế của hướng đông, hướng tây và vạn vật giữa hai hướng đó, nếu quí ngài nhận thức được.”
-
26:29
قَالَ لَئِنِ ٱتَّخَذْتَ إِلَـٰهًا غَيْرِى لَأَجْعَلَنَّكَ مِنَ ٱلْمَسْجُونِينَ
Q̣aala laʹinit takhaẓta ʹilaahan g̣ayree laʹajʻalannaka minal masjooneen!
(Pha-ra-ông) nói với (Musa): “Nếu nhà Ngươi quyết tôn thờ một Thượng Đế khác ngoài ta thì chắc chắn ta sẽ cho nhà Ngươi bị tù đày.”
-
26:30
قَالَ أَوَلَوْ جِئْتُكَ بِشَىْءٍ مُّبِينٍ
Q̣aala ʹawalaw jiʹtuka bishayʹim mubeen?
(Musa) nói với (Pha-ra-ông): “Ngay cả khi tôi mang đến cho ngài một điều gì đó chứng minh rõ ràng ư?”
-
26:31
قَالَ فَأْتِ بِهِۦٓ إِن كُنتَ مِنَ ٱلصَّـٰدِقِينَ
Q̣aala faʹti biheee ʹiñ kuñta minaṣ ṣaadiq̣een!
(Pha-ra-ông) nói: “Vậy nhà Ngươi hãy trình nó ra xem nếu nhà Ngươi đúng là một người nói thật.”
-
26:32
فَأَلْقَىٰ عَصَاهُ فَإِذَا هِىَ ثُعْبَانٌ مُّبِينٌ
Faʹalq̣aa ʻaṣaahu faʹiẓaa hiya s̤uʻbaanum mubeen!
Thế là Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó lập tức biến thành một con rắn hiển hiện.
-
26:33
وَنَزَعَ يَدَهُۥ فَإِذَا هِىَ بَيْضَآءُ لِلنَّـٰظِرِينَ
Wa-nazaʻa yadahoo faʹiẓaa hiya bayḍaaaʹu linnaaz̤̣ireen!
Và khi Y rút bàn tay của Y ra (sau khi áp nó vào ba sườn), bàn tay của Y trở nên trắng sáng trước những người chứng kiến.
-
26:34
قَالَ لِلْمَلَإِ حَوْلَهُۥٓ إِنَّ هَـٰذَا لَسَـٰحِرٌ عَلِيمٌ
Q̣aala lilmalaʹi ḥawlahooo ʹinna haazaa lasaaḥirun ʻaleem:
(Pha-ra-ông) quay sang bảo các cận thần: “Tên này quả nhiên là một phù thủy tài giỏi.”
-
26:35
يُرِيدُ أَن يُخْرِجَكُم مِّنْ أَرْضِكُم بِسِحْرِهِۦ فَمَاذَا تَأْمُرُونَ
Yureedu ʹañy yukhrijakum min ʹarḍikum̃ bisiḥrihee famaaẓaa taʹmuroon?
“Hắn định dùng pháp thuật để đánh đuổi các khanh ra khỏi lãnh thổ của các khanh. Vậy các khanh có ý xử trí hắn ra sao?”
-
26:36
قَالُوٓا۟ أَرْجِهْ وَأَخَاهُ وَٱبْعَثْ فِى ٱلْمَدَآئِنِ حَـٰشِرِينَ
Q̣aalooo ʹarjih wa-ʹakhaahu wabʻas̤ fil Madaaaʹini ḥaashireen―
(Các cận thần của Pha-ra-ông) thưa: “Hãy tạm tha cho hắn và người anh em của hắn, chúng ta sẽ tập hợp các pháp sư trong các thành phố lại.”
-
26:37
يَأْتُوكَ بِكُلِّ سَحَّارٍ عَلِيمٍ
Yaʹtooka bikulli saḥ-ḥaarin ʻaleem.
“Tất cả những nhà phù thủy tài giỏi sẽ đến trình diện bệ hạ.”
-
26:38
فَجُمِعَ ٱلسَّحَرَةُ لِمِيقَـٰتِ يَوْمٍ مَّعْلُومٍ
Fajumiʻas saḥaratu limeeq̣aati Yawmim maʻloom,
Vậy là các phù thủy được triệu tập tại một nơi hẹn vào một ngày đã được công bố rõ ràng.
-
26:39
وَقِيلَ لِلنَّاسِ هَلْ أَنتُم مُّجْتَمِعُونَ
Wa-q̣eela linnaasi hal ʹañtum mujtamiʻoon,
Và mọi người bảo nhau: “Các người không đi dự đại hội (để xem ai thắng trong cuộc so tài giữa Musa và các phù thủy) sao?”
-
26:40
لَعَلَّنَا نَتَّبِعُ ٱلسَّحَرَةَ إِن كَانُوا۟ هُمُ ٱلْغَـٰلِبِينَ
Laʻallanaa nattabiʻus saḥarata ʹiñ kaanoo humul g̣aalibeen?
“Có lẽ chúng ta sẽ theo các nhà phù thủy nếu họ thắng cuộc.”
-
26:41
فَلَمَّا جَآءَ ٱلسَّحَرَةُ قَالُوا۟ لِفِرْعَوْنَ أَئِنَّ لَنَا لَأَجْرًا إِن كُنَّا نَحْنُ ٱلْغَـٰلِبِينَ
Falammaa jaaaʹas saḥaratu q̣aaloo li-Firʻawna ʹaʹinna lanaa laʹajran ʹiñ kunnaa naḥnul g̣aalibeen?
Khi đến nơi, những nhà phù thủy thưa với Pha-ra-ông: “Nếu chúng tôi thắng thì chúng tôi có được ban thưởng không?”
-
26:42
قَالَ نَعَمْ وَإِنَّكُمْ إِذًا لَّمِنَ ٱلْمُقَرَّبِينَ
Q̣aala naʻam wa-ʹinnakum ʹiẓal laminal muq̣arrabeen.
(Pha-ra-ông) bảo: “Chắc chắn có, nhất định lúc đó các ngươi sẽ trở thành các cận thần của ta.”
-
26:43
قَالَ لَهُم مُّوسَىٰٓ أَلْقُوا۟ مَآ أَنتُم مُّلْقُونَ
Q̣aala lahum Moosaaa ʹalq̣oo maaa ʹañtum mulq̣oon!
Musa bảo (các phù thủy): “Quí ngài hãy ném bảo bối của quí ngài xuống.”
-
26:44
فَأَلْقَوْا۟ حِبَالَهُمْ وَعِصِيَّهُمْ وَقَالُوا۟ بِعِزَّةِ فِرْعَوْنَ إِنَّا لَنَحْنُ ٱلْغَـٰلِبُونَ
Faʹalq̣aw ḥibaalahum wa-ʻiṣiyyahum wa-q̣aaloo biʻizzati Firʻawna ʹinnaa lanaḥnul g̣aaliboon!
Thế là, họ ném những sợi dây và chiếc gậy của họ xuống, nói: “Với quyền lực của Pha-ra-ông, chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng.”
-
26:45
فَأَلْقَىٰ مُوسَىٰ عَصَاهُ فَإِذَا هِىَ تَلْقَفُ مَا يَأْفِكُونَ
Faʹalq̣aa Moosaa ʻaṣaahu faʹiẓaa hiya talq̣afu maa- yaʹfikoon!
Nhưng khi Musa ném chiếc gậy của Y xuống, nó nuốt mất những món vật mà họ đã làm giả.
-
26:46
فَأُلْقِىَ ٱلسَّحَرَةُ سَـٰجِدِينَ
Faʹulq̣iyas saḥaratu saajideen.
Lúc đó, những tên phù thủy liền cúi xuống quỳ lạy.
-
26:47
قَالُوٓا۟ ءَامَنَّا بِرَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Q̣aalooo ʹaamannaa bi-Rabbil ʻaalameen.
Họ nói: “Chúng tôi đã có đức tin nơi Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
-
26:48
رَبِّ مُوسَىٰ وَهَـٰرُونَ
Rabbi Moosaa wa-Haaroon.
“Thượng Đế của Musa và Harun.”
-
26:49
قَالَ ءَامَنتُمْ لَهُۥ قَبْلَ أَنْ ءَاذَنَ لَكُمْ ۖ إِنَّهُۥ لَكَبِيرُكُمُ ٱلَّذِى عَلَّمَكُمُ ٱلسِّحْرَ فَلَسَوْفَ تَعْلَمُونَ ۚ لَأُقَطِّعَنَّ أَيْدِيَكُمْ وَأَرْجُلَكُم مِّنْ خِلَـٰفٍ وَلَأُصَلِّبَنَّكُمْ أَجْمَعِينَ
Q̣aala ʹaamañtum lahoo q̣abla ʹan ʹaaẓana lakum? ʹInnahoo lakabeerukumul laẓee ʻallamakumus siḥr! Falasawfa taʻlamoon! Laʹuq̣aṭṭiʻanna ʹaydiyakum wa-ʹarjulakum min khilaafiñw walaʹuṣallibannakum ʹajmaʻeen!
(Thấy thế), Pha-ra-ông quát (các nhà phù thủy): “Các ngươi dám tin hắn trước khi ta cho phép các ngươi ư? Hắn quả nhiên là tên cầm đầu của các ngươi; hắn đã dạy các ngươi pháp thuật; rồi các ngươi sẽ sớm biết hậu quả. Chắc chắn, ta sẽ cho chặt tay này và chân kia của các ngươi và sẽ cho đóng đinh toàn bộ các ngươi trên thập tự giá.”
-
26:50
قَالُوا۟ لَا ضَيْرَ ۖ إِنَّآ إِلَىٰ رَبِّنَا مُنقَلِبُونَ
Q̣aaloo laa- ḍayra ʹinnaaa ʹilaa Rabbinaa muñq̣aliboon!
(Các nhà phù thủy) trả lời (Pha-ra-ông): “Chẳng có gì thiệt hại cả, bởi vì rồi đây chúng tôi sẽ quay về gặp Thượng Đế của chúng tôi mà thôi.”
-
26:51
إِنَّا نَطْمَعُ أَن يَغْفِرَ لَنَا رَبُّنَا خَطَـٰيَـٰنَآ أَن كُنَّآ أَوَّلَ ٱلْمُؤْمِنِينَ
ʹInnaa naṭmaʻu ʹañy yag̣fira lanaa Rabbunaa khaṭaayaanaaa ʹañ kunnaaa ʹawwalal Muʹmineen!
“Chúng tôi kỳ vọng Thượng Đế của chúng tôi sẽ tha thứ cho chúng tôi những lỗi lầm của chúng tôi bởi vì chúng tôi là những người có đức tin đầu tiên.”
-
26:52
۞ وَأَوْحَيْنَآ إِلَىٰ مُوسَىٰٓ أَنْ أَسْرِ بِعِبَادِىٓ إِنَّكُم مُّتَّبَعُونَ
Wa-ʹawḥaynaaa ʹilaa Moosaaa ʹan ʹasri biʻibaadeee ʹinnakum muttabaʻoon.
TA đã mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy dẫn hết đám bề tôi của TA rời đi ban đêm, quả thật các ngươi sẽ bị truy sát.”
-
26:53
فَأَرْسَلَ فِرْعَوْنُ فِى ٱلْمَدَآئِنِ حَـٰشِرِينَ
Faʹarsala Firʻawnu fil Madaaaʹini ḥaashireen.
Rồi Pha-ra-ông cho quân lính loan tin đi khắp các thành phố.
-
26:54
إِنَّ هَـٰٓؤُلَآءِ لَشِرْذِمَةٌ قَلِيلُونَ
ʹInna haaaʹulaaaʹi lashirẓimatuñ q̣aleeloon,
“Quả thật, đám dân (Israel) này chỉ là một nhóm nhỏ bé.”
-
26:55
وَإِنَّهُمْ لَنَا لَغَآئِظُونَ
Wa-ʹinnahum lanaa lag̣aaaʹiz̤̣oon;
“Chúng thực sự đã phạm tội khi quân vì đã chọc giận ta.”
-
26:56
وَإِنَّا لَجَمِيعٌ حَـٰذِرُونَ
Wa-ʹinnaa lajameeʻun ḥaaẓiroon.
“Nhưng ta đã luôn cảnh giác đề phòng chúng.”
-
26:57
فَأَخْرَجْنَـٰهُم مِّن جَنَّـٰتٍ وَعُيُونٍ
Faʹakhrajnaahum miñ jannaatiñw waʻuyoon,
Bởi thế, TA (Allah) đã tống bọn chúng (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) ra khỏi hoa viên và suối nước.
-
26:58
وَكُنُوزٍ وَمَقَامٍ كَرِيمٍ
Wa-kunooziñw Wamaq̣aamiñ kareem;
Khỏi những kho tàng châu báu và địa vị cao sang.
-
26:59
كَذَٰلِكَ وَأَوْرَثْنَـٰهَا بَنِىٓ إِسْرَٰٓءِيلَ
Kaẓaalik: wa-ʹawras̤naahaa Baneee ʹIsraaaʹeel.
Giống như thế, TA đã cho dân Israel thừa kế (những thứ tốt đẹp đó).
-
26:60
فَأَتْبَعُوهُم مُّشْرِقِينَ
Faʹatbaʻoohum mushriq̣een.
Rồi (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) truy đuổi họ (dân Israel) vào lúc hừng đông.
-
26:61
فَلَمَّا تَرَٰٓءَا ٱلْجَمْعَانِ قَالَ أَصْحَـٰبُ مُوسَىٰٓ إِنَّا لَمُدْرَكُونَ
Faalammaa taraaaʹal jamʻaani q̣aala ʹAṣḥaabu Moosaaa ʹinnaa lamudrakoon.
Khi hai đoàn người đối diện nhau, các tông đồ của Musa nói: “Chắc chắn chúng ta sẽ bị đuổi kịp.”
-
26:62
قَالَ كَلَّآ ۖ إِنَّ مَعِىَ رَبِّى سَيَهْدِينِ
Q̣aala kallaa! ʹInna maʻiya Rabbee sayahdeen!
(Musa) bảo: “Không đâu, Thượng Đế của Ta luôn sát cánh bên Ta, Ngài sẽ hướng dẫn Ta thôi.”
-
26:63
فَأَوْحَيْنَآ إِلَىٰ مُوسَىٰٓ أَنِ ٱضْرِب بِّعَصَاكَ ٱلْبَحْرَ ۖ فَٱنفَلَقَ فَكَانَ كُلُّ فِرْقٍ كَٱلطَّوْدِ ٱلْعَظِيمِ
Faʹawḥaynaaa ʹilaa Moosaaa ʹaniḍ rib biʻaṣaakal baḥr. Fañfalaq̣a fakaana kullu firq̣iñ kaṭṭawdil ʻaz̤̣eem.
Ngay lúc đó, TA mặc khải cho Musa, phán: “Ngươi hãy đánh cây gậy của Ngươi xuống mặt biển.” (Y làm theo), tức khắc biển tách ra làm đôi thành những tảng nước hai bên như hai ngọn núi khổng lồ.
-
26:64
وَأَزْلَفْنَا ثَمَّ ٱلْـَٔاخَرِينَ
Wa-ʹazlafnaa s̤ammal ʹaakhareen.
TA đẩy đám người kia (Pha-ra-ông và quân lính của hắn) đến gần nơi đó.
-
26:65
وَأَنجَيْنَا مُوسَىٰ وَمَن مَّعَهُۥٓ أَجْمَعِينَ
Wa-ʹañjaynaa Moosaa wa-mam maʻahooo ʹajmaʻeen;
Và TA đã cứu nguy Musa và toàn bộ những ai theo Y.
-
26:66
ثُمَّ أَغْرَقْنَا ٱلْـَٔاخَرِينَ
S̤umma ʹag̣raq̣nal ʹaakhareen.
Rồi TA nhấn chìm đám người kia.
-
26:67
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong sự việc đó là một bằng chứng (cho sự trung thực của Musa) nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:68
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Và Thượng Đế của Ngươi đích thực là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:69
وَٱتْلُ عَلَيْهِمْ نَبَأَ إِبْرَٰهِيمَ
Watlu ʻalayhim nabaʹa ʹIbraaheem.
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy đọc cho họ nghe về câu chuyện của Ibrahim.
-
26:70
إِذْ قَالَ لِأَبِيهِ وَقَوْمِهِۦ مَا تَعْبُدُونَ
ʹIẓ q̣aala liʹabeehi wa-q̣awmihee maa- taʻbudoon?
Khi (Ibrahim) thưa với phụ thân và người dân của mình: “Các người đang thờ phượng gì thế kia?”
-
26:71
قَالُوا۟ نَعْبُدُ أَصْنَامًا فَنَظَلُّ لَهَا عَـٰكِفِينَ
Q̣aaloo naʻbudu ʹaṣnaamañ fanaz̤̣allu lahaa ʻaakifeen.
Họ đáp: “Bọn ta đang thờ các bục tượng, bọn ta rất sùng kính các thần linh này.”
-
26:72
قَالَ هَلْ يَسْمَعُونَكُمْ إِذْ تَدْعُونَ
Q̣aala hal yasmaʻoonakum ʹiẓ tadʻoon.
(Ibrahim) hỏi: “Các bục tượng đó có nghe được các người khi các người cầu xin chúng không?”
-
26:73
أَوْ يَنفَعُونَكُمْ أَوْ يَضُرُّونَ
ʹAw yañfaʻoonakum ʹaw yaḍurroon?
“Hoặc chúng có giúp ích hay hãm hại được các người không?”
-
26:74
قَالُوا۟ بَلْ وَجَدْنَآ ءَابَآءَنَا كَذَٰلِكَ يَفْعَلُونَ
Q̣aaloo bal wajadnaaa ʹaabaaaʹanaa kaẓaalika yafʻaloon.
Họ đáp: “Không, nhưng bọn ta thấy cha mẹ của bọn ta đã làm như vậy.”
-
26:75
قَالَ أَفَرَءَيْتُم مَّا كُنتُمْ تَعْبُدُونَ
Q̣aala ʹafaraʹaytum maa kuñtum taʻbudoon,
(Ibrahim) bảo: “Những thứ mà các người đang tôn thờ”
-
26:76
أَنتُمْ وَءَابَآؤُكُمُ ٱلْأَقْدَمُونَ
ʹAñtum wa-ʹaabaaaʹukumul ʹaq̣damoon,
“Và cả những thứ mà tổ tiên xa xưa của các người đã tôn thờ”
-
26:77
فَإِنَّهُمْ عَدُوٌّ لِّىٓ إِلَّا رَبَّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Faʹinnahum ʻaduwwul leee ʹillaa Rabbal ʻaalameen;
“Đều là kẻ thù của Ta ngoại trừ Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
-
26:78
ٱلَّذِى خَلَقَنِى فَهُوَ يَهْدِينِ
ʹAllaẓee khalaq̣anee fa-Huwa yahdeen;
“Ngài là Đấng đã tạo ra Ta rồi hướng dẫn Ta.”
-
26:79
وَٱلَّذِى هُوَ يُطْعِمُنِى وَيَسْقِينِ
Wallaẓee Huwa yuṭʻimunee wa-yasq̣een,
“Ngài là Đấng đã cho Ta ăn và cho Ta uống.”
-
26:80
وَإِذَا مَرِضْتُ فَهُوَ يَشْفِينِ
Wa-ʹiẓaa mariḍtu fa-Huwa yashfeen:
“Khi Ta bệnh thì Ngài là Đấng cho Ta khỏi bệnh.”
-
26:81
وَٱلَّذِى يُمِيتُنِى ثُمَّ يُحْيِينِ
wallaẓee yumeetunee s̤umma yuḥyeen;
“Ngài là Đấng làm cho Ta chết rồi làm cho Ta sống lại.”
-
26:82
وَٱلَّذِىٓ أَطْمَعُ أَن يَغْفِرَ لِى خَطِيٓـَٔتِى يَوْمَ ٱلدِّينِ
Wallaẓeee ʹaṭmaʻu añy yag̣fira lee khaṭeeeʹatee Yawmad Deen...
“Ngài là Đấng mà Ta hy vọng sẽ được tha thứ về những tội lỗi của Ta vào Ngày Phán Xét.”
-
26:83
رَبِّ هَبْ لِى حُكْمًا وَأَلْحِقْنِى بِٱلصَّـٰلِحِينَ
Rabbi hab lee ḥukmañw waʹalḥiq̣nee biṣ-Ṣaaliḥeen;
“Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài ban cho bề tôi sự khôn ngoan và xin Ngài nhập bề tôi cùng với những người đức hạnh.”
-
26:84
وَٱجْعَل لِّى لِسَانَ صِدْقٍ فِى ٱلْـَٔاخِرِينَ
Wajʻal lee lisaana ṣidq̣iñ fil ʹaakhireen;
“Xin Ngài vinh danh bề tôi trên chiếc lưỡi của những thế hệ mai sau.”
-
26:85
وَٱجْعَلْنِى مِن وَرَثَةِ جَنَّةِ ٱلنَّعِيمِ
Wajʻalnee miñw waras̤ati Jannatin Naʻeem.
“Xin Ngài làm cho bề tôi thành một người thừa kế Thiên Đàng Hạnh phúc.”
-
26:86
وَٱغْفِرْ لِأَبِىٓ إِنَّهُۥ كَانَ مِنَ ٱلضَّآلِّينَ
Wag̣fir liʹabeee ʹinnahoo kaana minaḍ ḍaaalleen;
“Xin Ngài tha thứ cho phụ thân của bề tôi bởi ông ấy là một người lầm lạc.”
-
26:87
وَلَا تُخْزِنِى يَوْمَ يُبْعَثُونَ
Wa-laa tukhzinee Yawma yubʻas̤oon;
“Xin Ngài đừng hạ nhục bề tôi vào Ngày nhân loại được phục sinh.”
-
26:88
يَوْمَ لَا يَنفَعُ مَالٌ وَلَا بَنُونَ
Yawma laa- yañfaʻu maaluñw walaa banoon,
“Đó là Ngày mà của cải cũng như con cái sẽ không giúp ích được gì.”
-
26:89
إِلَّا مَنْ أَتَى ٱللَّهَ بِقَلْبٍ سَلِيمٍ
Illaa man ʹatal laaha biq̣albiñ saleem.
“Ngoại trừ những ai đến với Allah bằng một tấm lòng trong sạch.”
-
26:90
وَأُزْلِفَتِ ٱلْجَنَّةُ لِلْمُتَّقِينَ
Wa-ʹuzlifatil Jannatu lil-Muttaq̣een,
Thiên Đàng sẽ được mang đến gần những người ngoan đạo.
-
26:91
وَبُرِّزَتِ ٱلْجَحِيمُ لِلْغَاوِينَ
Wa-burrizatil Jaḥeemu lilg̣aaween;
Hỏa Ngục sẽ được mang đến trước mặt những kẻ lầm lạc.
-
26:92
وَقِيلَ لَهُمْ أَيْنَ مَا كُنتُمْ تَعْبُدُونَ
Wa-q̣eela lahum ʹayna maa- kuñtum taʻbudoon.
Có lời bảo họ: “Đâu là những thứ mà các ngươi đã tôn thờ”
-
26:93
مِن دُونِ ٱللَّهِ هَلْ يَنصُرُونَكُمْ أَوْ يَنتَصِرُونَ
Miñ doonil laah? Hal yañṣuroonakum ʹaw yañtaṣiroon?
“Thay vì Allah? Liệu chúng có khả năng giải cứu các ngươi hoặc tự cứu lấy bản thân chúng được không?”
-
26:94
فَكُبْكِبُوا۟ فِيهَا هُمْ وَٱلْغَاوُۥنَ
Fakubkiboo feehaa hum walg̣aawoon,
Bởi thế, chúng cùng với đám quỷ quái sẽ bị lùa vào Hỏa Ngục.
-
26:95
وَجُنُودُ إِبْلِيسَ أَجْمَعُونَ
Wa-junoodu ʹIbleesa ʹajmaʻoon.
Và toàn bộ binh tướng của Iblis cũng thế.
-
26:96
قَالُوا۟ وَهُمْ فِيهَا يَخْتَصِمُونَ
Q̣aaloo wa-hum feehaa yakhtaṣimoon;
Và trong lúc cãi vã nhau trong (Hỏa Ngục), họ sẽ nói:
-
26:97
تَٱللَّهِ إِن كُنَّا لَفِى ضَلَـٰلٍ مُّبِينٍ
Tallaahi ʹiñ kunnaa lafee ḍalaalim mubeen.
“Thề với Allah, chúng tôi rõ ràng là nhóm người lầm lạc.”
-
26:98
إِذْ نُسَوِّيكُم بِرَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
ʹIẓ nusawweekum̃ bi-Rabbil ʻAalameen.
“Khi mà chúng tôi đã suy tôn các ngươi ngang vai với Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
-
26:99
وَمَآ أَضَلَّنَآ إِلَّا ٱلْمُجْرِمُونَ
Wa-maaa ʹaḍallanaaa ʹillal mujrimoon.
“Và chỉ những tên tội lỗi mới dắt chúng tôi đi lạc.”
-
26:100
فَمَا لَنَا مِن شَـٰفِعِينَ
Famaa lanaa miñ shaafiʻeen,
“Thế là chúng tôi chẳng có ai can thiệp.”
-
26:101
وَلَا صَدِيقٍ حَمِيمٍ
Wa-laa ṣadeeq̣in ḥameem.
“Chúng tôi cũng chẳng có một người bạn chân tình nào cả.”
-
26:102
فَلَوْ أَنَّ لَنَا كَرَّةً فَنَكُونَ مِنَ ٱلْمُؤْمِنِينَ
Falaw ʹanna lanaa karratañ fanakoona minal Muʹmineen!
“Nếu có cơ hội trở lại (trần thế) lần nữa thì chúng tôi sẽ là những người có đức tin.”
-
26:103
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:104
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:105
كَذَّبَتْ قَوْمُ نُوحٍ ٱلْمُرْسَلِينَ
Kaẓẓabat q̣awmu Nooḥinil mursaleen.
Người dân của Nuh đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
-
26:106
إِذْ قَالَ لَهُمْ أَخُوهُمْ نُوحٌ أَلَا تَتَّقُونَ
ʹIẓ q̣aala lahum ʹakhoohum Nooḥun ʹalaa tattaq̣oon?
Khi Nuh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
-
26:107
إِنِّى لَكُمْ رَسُولٌ أَمِينٌ
ʹInnee lakum rasoolun ʹameen:
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
-
26:108
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:109
وَمَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ ۖ إِنْ أَجْرِىَ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajr; ʹin ʹajriya ʹillaa ʻalaa Rabbil ʻAalameen.
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
-
26:110
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:111
۞ قَالُوٓا۟ أَنُؤْمِنُ لَكَ وَٱتَّبَعَكَ ٱلْأَرْذَلُونَ
Q̣aalooo ʹanuʹminu laka wattabaʻakal ʹarẓaloon?
Họ (đáp lại lời kêu gọi của Nuh), nói : “Lẽ nào bọn ta lại phải tin ngươi trong khi những kẻ đi theo ngươi toàn là những tên bần cùng?!”
-
26:112
قَالَ وَمَا عِلْمِى بِمَا كَانُوا۟ يَعْمَلُونَ
Q̣aala wa-maa ʻilmee Bimaa- kaanoo yaʻmaloon?
(Nuh) bảo: “Ta không biết điều họ đã từng làm.”[2]
-
26:113
إِنْ حِسَابُهُمْ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّى ۖ لَوْ تَشْعُرُونَ
ʹIn ḥisaabuhum ʹillaa ʻalaa Rabbee law tashʻuroon.
“Việc phán xét họ là ở thẩm quyền nơi Thượng Đế của Ta, nếu các người cảm nhận được.”
-
26:114
وَمَآ أَنَا۠ بِطَارِدِ ٱلْمُؤْمِنِينَ
Wa-maaa ʹana biṭaaridil Muʹmineen.
“Ta không có quyền xua đuổi những người có đức tin.”
-
26:115
إِنْ أَنَا۠ إِلَّا نَذِيرٌ مُّبِينٌ
In ʹana ʹillaa mubeen. naẓeerum
“Quả thật Ta chỉ là một người cảnh báo công khai mà thôi.”
-
26:116
قَالُوا۟ لَئِن لَّمْ تَنتَهِ يَـٰنُوحُ لَتَكُونَنَّ مِنَ ٱلْمَرْجُومِينَ
Q̣aaloo laʹil lam tañtahi yaa-Nooḥu latakoonanna minal marjoomeen.
Họ (dọa Nuh), bảo: “Này Nuh, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ ném đá giết chết ngươi.”
-
26:117
قَالَ رَبِّ إِنَّ قَوْمِى كَذَّبُونِ
Q̣aala Rabbi ʹinna q̣awmee kaẓẓaboon.
Nuh cầu nguyện: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, đám dân của bề tôi đã phủ nhận bề tôi.”
-
26:118
فَٱفْتَحْ بَيْنِى وَبَيْنَهُمْ فَتْحًا وَنَجِّنِى وَمَن مَّعِىَ مِنَ ٱلْمُؤْمِنِينَ
Faftaḥ baynee wa-baynahum fat-hañw wanajjinee wa-mam maʻiya minal Muʹmineen.
“Xin Ngài mở lối giữa bề tôi và họ, xin Ngài giải cứu bề tôi và những người có đức tin đã đi theo bề tôi.”
-
26:119
فَأَنجَيْنَـٰهُ وَمَن مَّعَهُۥ فِى ٱلْفُلْكِ ٱلْمَشْحُونِ
Faʹañjaynaahu wa-mam maʻahoo fil fulkil mashḥoon.
Thế là TA đã giải cứu (Nuh) và những ai đi theo Y trên một chiếc tàu đầy ắp.
-
26:120
ثُمَّ أَغْرَقْنَا بَعْدُ ٱلْبَاقِينَ
S̤umma ʹag̣raq̣naa baʻdul baaq̣een.
Rồi TA nhấn chìm toàn bộ đám người còn lại (trong biển nước của trận đại hồng thủy).
-
26:121
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah; wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (làm bài học cho những ai phủ nhận Thiên Sứ của Allah), tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:122
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹInna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:123
كَذَّبَتْ عَادٌ ٱلْمُرْسَلِينَ
Kaẓẓabat ʻAadunil mursaleen,
Người dân ‘Ad đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
-
26:124
إِذْ قَالَ لَهُمْ أَخُوهُمْ هُودٌ أَلَا تَتَّقُونَ
ʹIẓ q̣aala lahum ʹakhoohum Hoodun ʹalaa tattaq̣oon?
Khi Hud, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
-
26:125
إِنِّى لَكُمْ رَسُولٌ أَمِينٌ
ʹInnee lakum rasoolun ʹameen.
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
-
26:126
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:127
وَمَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ ۖ إِنْ أَجْرِىَ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajr; ʹin ʹajriya ʹillaa ʻalaa Rabbil ʻAalameen.
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
-
26:128
أَتَبْنُونَ بِكُلِّ رِيعٍ ءَايَةً تَعْبَثُونَ
ʹAtabnoona bikulli reeʻin ʹaayatañ taʻbas̤oon?
“Phải chăng các người đã xây cất trên cao (những ngôi nhà kiên cố) để khoe khoang ư?”
-
26:129
وَتَتَّخِذُونَ مَصَانِعَ لَعَلَّكُمْ تَخْلُدُونَ
Wa-tattakhiẓoona maṣaaniʻa laʻallakum takhludoon?
“Lẽ nào các người xây cất những lâu đài kiên cố để mong ở trong đó vĩnh viễn?”
-
26:130
وَإِذَا بَطَشْتُم بَطَشْتُمْ جَبَّارِينَ
Wa-ʹiẓaa baṭashtum̃ baṭashtum jabbaareen?
“Và khi các người đàn áp, các người đàn áp như những bạo chúa.”
-
26:131
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:132
وَٱتَّقُوا۟ ٱلَّذِىٓ أَمَدَّكُم بِمَا تَعْلَمُونَ
Wattaq̣ul laẓeee ʹamaddakum̃ bimaa taʻlamoon.
“Các người hãy sợ Đấng đã trợ giúp các người biết bao thiên ân mà các người biết.”
-
26:133
أَمَدَّكُم بِأَنْعَـٰمٍ وَبَنِينَ
ʹAmaddakum̃ biʹanʻaamiñw wabaneen,
“Ngài đã ban cho các người gia súc và con cái.”
-
26:134
وَجَنَّـٰتٍ وَعُيُونٍ
Wa-jannaatiñw Waʻuyoon.
“(Ngài đã ban cho các người) vườn tược và suối nước.”
-
26:135
إِنِّىٓ أَخَافُ عَلَيْكُمْ عَذَابَ يَوْمٍ عَظِيمٍ
ʹInneee ʹakhaafu ʻalaykum ʻAẓaaba Yawmin ʻaz̤̣eem.
“Ta thật sự lo sợ cho các người về sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.”
-
26:136
قَالُوا۟ سَوَآءٌ عَلَيْنَآ أَوَعَظْتَ أَمْ لَمْ تَكُن مِّنَ ٱلْوَٰعِظِينَ
Q̣aaloo sawaaaʹun ʻalaynaaa ʹa-waʻaz̤̣ta ʹam lam takum minal waaʻiz̤̣een!
(Đám dân của Hud đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Dù ngươi có cảnh báo hay không cảnh báo, điều đó cũng bằng thừa đối với bọn ta mà thôi.”
-
26:137
إِنْ هَـٰذَآ إِلَّا خُلُقُ ٱلْأَوَّلِينَ
ʹIn haaẓaaa ʹillaa khuluq̣ul ʹawwaleen,
“Đây đúng là phong cách và lối suy nghĩ của người xưa.”
-
26:138
وَمَا نَحْنُ بِمُعَذَّبِينَ
Wa-maa naḥnu bimuʻaẓẓabeen!
“Và bọn ta chắc chắn sẽ không bị trừng phạt.”
-
26:139
فَكَذَّبُوهُ فَأَهْلَكْنَـٰهُمْ ۗ إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
Fakaẓẓaboohu faʹahlaknaahum. ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Thế là họ chối bỏ Y nên đã bị tiêu diệt. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu, nhưng đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:140
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:141
كَذَّبَتْ ثَمُودُ ٱلْمُرْسَلِينَ
Kaẓẓabat s̤amoodul mursaleen.
Người dân Thamud đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
-
26:142
إِذْ قَالَ لَهُمْ أَخُوهُمْ صَـٰلِحٌ أَلَا تَتَّقُونَ
ʹIẓ q̣aala lahum ʹakhoohum Ṣaaliḥun ʹalaa tattaq̣oon?
Khi Saleh, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
-
26:143
إِنِّى لَكُمْ رَسُولٌ أَمِينٌ
ʹInnee lakum rasoolun ʹameen.
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
-
26:144
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:145
وَمَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ ۖ إِنْ أَجْرِىَ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajr: ʹin ʹajriya ʹillaa ʻalaa Rabbil ʻAalameen.
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
-
26:146
أَتُتْرَكُونَ فِى مَا هَـٰهُنَآ ءَامِنِينَ
ʹAtutrakoona Fee maa- haahunaaa ʹaamineen,
“Lẽ nào các người sẽ được an toàn hưởng thụ những tiện nghi hiện có nơi đây?”
-
26:147
فِى جَنَّـٰتٍ وَعُيُونٍ
Fee jannaatiñw waʻuyoon,
“Trong những ngôi vườn và suối nước?”
-
26:148
وَزُرُوعٍ وَنَخْلٍ طَلْعُهَا هَضِيمٌ
Wa-zurooʻiñw Wanakhliñ ṭal-ʻuhaa haḍeem?
“Với những nương rẫy và vườn chà là kết trái chín mộng?”
-
26:149
وَتَنْحِتُونَ مِنَ ٱلْجِبَالِ بُيُوتًا فَـٰرِهِينَ
Wa-tanḥitoona minal jibaali buyootañ faariheen?
“Và các người giỏi đục núi xây nhà kiêng cố.”
-
26:150
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon;
“Các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:151
وَلَا تُطِيعُوٓا۟ أَمْرَ ٱلْمُسْرِفِينَ
Wa-laa tuṭeeʻooo ʹamral musrifeen,
“Các người chớ nghe theo mệnh lệnh của những kẻ thái quá.”
-
26:152
ٱلَّذِينَ يُفْسِدُونَ فِى ٱلْأَرْضِ وَلَا يُصْلِحُونَ
ʹAllaẓeena yufsidoona fil ʹarḍi wa-laa yuṣliḥoon.
“Họ là những kẻ làm điều xấu xa và tội lỗi khắp nơi nhưng không chịu sửa mình.”
-
26:153
قَالُوٓا۟ إِنَّمَآ أَنتَ مِنَ ٱلْمُسَحَّرِينَ
Q̣aalooo ʹinnamaaa ʹañta minal musaḥḥareen!
(Đám dân của Saleh đáp lại lời kêu gọi của Y), nói: “Ngươi đúng là đã bị trúng tà.”
-
26:154
مَآ أَنتَ إِلَّا بَشَرٌ مِّثْلُنَا فَأْتِ بِـَٔايَةٍ إِن كُنتَ مِنَ ٱلصَّـٰدِقِينَ
Maaa ʹañta ʹillaa basharum mis̤lunaa: faʹti biʹAayatin ʹiñ kuñta minaṣ Ṣaadiq̣een!
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta. Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy mang ra cho bọn ta thứ gì đó chứng minh xem nào.”
-
26:155
قَالَ هَـٰذِهِۦ نَاقَةٌ لَّهَا شِرْبٌ وَلَكُمْ شِرْبُ يَوْمٍ مَّعْلُومٍ
Q̣aala haẓihee naaq̣atul lahaa shirbuñw walakum shirbu yawmim maʻloom.
(Saleh) bảo họ: “Đây là con lạc đà cái (mà Allah đã mang nó ra từ tảng đá), nó sẽ uống phần nước của nó và các người sẽ uống phần nước của các người vào ngày được ấn định.”
-
26:156
وَلَا تَمَسُّوهَا بِسُوٓءٍ فَيَأْخُذَكُمْ عَذَابُ يَوْمٍ عَظِيمٍ
Walaa tamassoohaa bisoooʹiñ fayaʹkhuẓakum ʻAẓaabu yawmin ʻaz̤̣eem.
“Các người không được làm hại đến nó, nếu không các người sẽ bị trừng phạt vào một Ngày Vĩ Đại.”
-
26:157
فَعَقَرُوهَا فَأَصْبَحُوا۟ نَـٰدِمِينَ
Faʻaq̣aroohaa faʹaṣbaḥoo naadimeen.
Nhưng rồi họ đã đâm cổ nó và tỏ ra hối hận sau đó.
-
26:158
فَأَخَذَهُمُ ٱلْعَذَابُ ۗ إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
Faʹakhaẓahumul ʻAẓaab. ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Thế là họ đã bị hình phạt túm lấy. Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:159
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʹAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:160
كَذَّبَتْ قَوْمُ لُوطٍ ٱلْمُرْسَلِينَ
Kaẓẓabat q̣awmu Looṭinil mursaleen.
Người dân của Lut đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (của Allah).
-
26:161
إِذْ قَالَ لَهُمْ أَخُوهُمْ لُوطٌ أَلَا تَتَّقُونَ
ʹIẓ q̣aala lahum ʹakhoohum Looṭun ʹalaa tattaq̣oon?
Khi Lut, người anh em của họ bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
-
26:162
إِنِّى لَكُمْ رَسُولٌ أَمِينٌ
ʹInnee lakum rasoolun ʹameen.
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
-
26:163
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:164
وَمَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ ۖ إِنْ أَجْرِىَ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajr: ʹIn ʹajriya ʹillaa ʻalaa Rabbil ʻAalameen.
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật sẽ ân thưởng cho Ta.”
-
26:165
أَتَأْتُونَ ٱلذُّكْرَانَ مِنَ ٱلْعَـٰلَمِينَ
ʹAtaʹtoonaẓ ẓukraana minal ʻaalameen,
“Sao các người lại tìm đến đàn ông trong vũ trụ này để thỏa mãn tình dục,”
-
26:166
وَتَذَرُونَ مَا خَلَقَ لَكُمْ رَبُّكُم مِّنْ أَزْوَٰجِكُم ۚ بَلْ أَنتُمْ قَوْمٌ عَادُونَ
Wataẓaroona maa- khalaq̣a lakum Rabbukum min ʹazwaajikum? bal ʹañtum q̣awmun ʻaadoon!
“Và bỏ rơi những người mà Thượng Đế của các người đã tạo ra cho các người để làm vợ? Không, các người thực sự là những kẻ thái quá.”
-
26:167
قَالُوا۟ لَئِن لَّمْ تَنتَهِ يَـٰلُوطُ لَتَكُونَنَّ مِنَ ٱلْمُخْرَجِينَ
Q̣aaloo laʹil lam tañtahi yaa-Looṭu latakoonanna minal mukhrajeen!
(Đám dân của Lut dọa Y), bảo: “Này Lut, nếu ngươi không chịu dừng lại, bọn ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi xứ.”
-
26:168
قَالَ إِنِّى لِعَمَلِكُم مِّنَ ٱلْقَالِينَ
Q̣aala ʹinnee liʻamalikum minal q̣aaleen.
(Lut) nói với họ: “Ta là một người căm ghét việc làm của các người.”
-
26:169
رَبِّ نَجِّنِى وَأَهْلِى مِمَّا يَعْمَلُونَ
Rabbi najjinee wa-ʹahlee mimmaa yaʻmaloon!
(Lut cầu nguyện): “Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài giải cứu bề tôi và gia đình của bề tôi thoát khỏi hành vi xấu của họ.”
-
26:170
فَنَجَّيْنَـٰهُ وَأَهْلَهُۥٓ أَجْمَعِينَ
Fanajjaynaahu wa-ʹahlahooo ʹajmaʻeen,
Thế là TA (Allah) đã giải cứu Lut và toàn bộ gia đình của Y.
-
26:171
إِلَّا عَجُوزًا فِى ٱلْغَـٰبِرِينَ
ʹIllaa ʻajoozañ fil g̣aabireen.
Trừ vợ của Y (là kẻ vô đức tin), nữ ta sẽ ở cùng đám người bị trừng phạt.
-
26:172
ثُمَّ دَمَّرْنَا ٱلْـَٔاخَرِينَ
S̤umma dammarnal ʹaakhareen.
Sau đó TA đã tiêu diệt toàn bộ đám người còn lại.
-
26:173
وَأَمْطَرْنَا عَلَيْهِم مَّطَرًا ۖ فَسَآءَ مَطَرُ ٱلْمُنذَرِينَ
Wa-ʹamṭarnaa ʻalayhim maṭaraa: fasaaaʹa maṭarul muñẓareen!
TA đã trừng phạt họ bằng một trận mưa khủng khiếp; đúng là một trận mưa kinh hoàng cho đám người được cảnh báo trước.
-
26:174
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:175
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:176
كَذَّبَ أَصْحَـٰبُ لْـَٔيْكَةِ ٱلْمُرْسَلِينَ
Kaẓẓaba ʹAṣḥaabul ʹAykatil mursaleen.
Dân chúng Aikah (một khu rừng gần địa phận Madyan) đã chối bỏ tất cả Thiên Sứ (Allah).
-
26:177
إِذْ قَالَ لَهُمْ شُعَيْبٌ أَلَا تَتَّقُونَ
ʹIẓ q̣aala lahum Shuʻaybun ʹalaa tattaq̣oon?
Khi Shu’aib bảo họ: “Các người không sợ (Allah) sao?”
-
26:178
إِنِّى لَكُمْ رَسُولٌ أَمِينٌ
ʹInnee lakum rasoolun ʹameen.
“Ta đúng thực là Thiên Sứ đáng tin được (Allah) phái đến cho các người.”
-
26:179
فَٱتَّقُوا۟ ٱللَّهَ وَأَطِيعُونِ
Fattaq̣ul laaha wa-ʹaṭeeʻoon.
“Thế nên, các người hãy kính sợ Allah và vâng lời Ta.”
-
26:180
وَمَآ أَسْـَٔلُكُمْ عَلَيْهِ مِنْ أَجْرٍ ۖ إِنْ أَجْرِىَ إِلَّا عَلَىٰ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-maaa ʹasʹalukum ʻalayhi min ʹajr: ʹin ʹajriya ʹillaa ʻalaa Rabbil ʻAalameen.
“Ta không đòi các người trả thù lao cho việc đó mà chính Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật loài sẽ ân thưởng cho Ta.”
-
26:181
۞ أَوْفُوا۟ ٱلْكَيْلَ وَلَا تَكُونُوا۟ مِنَ ٱلْمُخْسِرِينَ
ʹAwful kayla wa-laa takoonoo minal mukhsireen.
“Các người hãy đong cho đủ, chớ là những kẻ làm cho người khác mất mát (gian lận, đong không đủ khi bán).”
-
26:182
وَزِنُوا۟ بِٱلْقِسْطَاسِ ٱلْمُسْتَقِيمِ
Wazinoo bilq̣isṭaasil mustaq̣eem.
“Và khi cân các người hãy để cho bàn cân được ngay thẳng.”
-
26:183
وَلَا تَبْخَسُوا۟ ٱلنَّاسَ أَشْيَآءَهُمْ وَلَا تَعْثَوْا۟ فِى ٱلْأَرْضِ مُفْسِدِينَ
Wa-laa tabkhasun naasa ʹashyaaaʹahum wa-laa taʻs̤aw fil ʹarḍi mufsideen.
“Các người chớ gian lận thiên hạ bằng cách cân thiếu và cũng chớ đi khắp trái đất để gieo rắc tội lỗi.”
-
26:184
وَٱتَّقُوا۟ ٱلَّذِى خَلَقَكُمْ وَٱلْجِبِلَّةَ ٱلْأَوَّلِينَ
Wattaq̣ul laẓee khalaq̣akum waljibillatal ʹawwaleen.
“Các người hãy sợ Allah, Đấng đã tạo hóa các người và những thế hệ trước.”
-
26:185
قَالُوٓا۟ إِنَّمَآ أَنتَ مِنَ ٱلْمُسَحَّرِينَ
Q̣aalooo ʹinnamaaa ʹañta minal musaḥḥareen!
(Đám dân Aikah đáp lại lời kêu gọi của Shu’aib), nói : “Quả thật, ngươi đã bị trúng tà.”
-
26:186
وَمَآ أَنتَ إِلَّا بَشَرٌ مِّثْلُنَا وَإِن نَّظُنُّكَ لَمِنَ ٱلْكَـٰذِبِينَ
Wa-maaa ʹañta ʹillaa basharum mis̤lunaa wa-ʹin naz̤̣unnuka laminal kaaẓibeen!
“Ngươi chẳng qua cũng chỉ là một người phàm như bọn ta và bọn ta nghĩ ngươi là tên nói dối.”
-
26:187
فَأَسْقِطْ عَلَيْنَا كِسَفًا مِّنَ ٱلسَّمَآءِ إِن كُنتَ مِنَ ٱلصَّـٰدِقِينَ
Faʹasq̣iṭ ʻalaynaa kisafam minas samaaaʹi ʹiñ kuñta minaṣ ṣaadiq̣een!
“Nhưng nếu ngươi nói thật thì ngươi hãy khiến cho một phần của bầu trời rơi xuống đè bọn ta thử xem nào.”
-
26:188
قَالَ رَبِّىٓ أَعْلَمُ بِمَا تَعْمَلُونَ
Q̣aala Rabbeee ʹaʻlamu bimaa taʻmaloon.
(Shu’aib) nói với họ: “Thượng Đế của Ta, Ngài biết rõ điều mà các người làm.”
-
26:189
فَكَذَّبُوهُ فَأَخَذَهُمْ عَذَابُ يَوْمِ ٱلظُّلَّةِ ۚ إِنَّهُۥ كَانَ عَذَابَ يَوْمٍ عَظِيمٍ
Fakaẓẓaboohu faʹakhaẓahum ʻaẓaabu Yawmiz̤̣ z̤̣ullah: ʹinnahoo kaana ʻaẓaaba Yawmin ʻAz̤̣eem.
Họ đã phủ nhận (Shu’aib). Cho nên, họ đã bị hình phạt túm lấy vào một ngày tối trời, đó là sự trừng phạt của một Ngày Vĩ Đại.
-
26:190
إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً ۖ وَمَا كَانَ أَكْثَرُهُم مُّؤْمِنِينَ
ʹInna fee ẓaalika laʹAayah: wa-maa kaana ʹaks̤aruhum Muʹmineen.
Quả thật, trong sự việc đó là một dấu hiệu (bài học cho những ai phủ nhận và không vâng lời các vị Thiên Sứ của Allah); tuy nhiên, đa số bọn họ không có đức tin.
-
26:191
وَإِنَّ رَبَّكَ لَهُوَ ٱلْعَزِيزُ ٱلرَّحِيمُ
Wa-ʹinna Rabbaka la-Huwal ʻAzeezur Raḥeem.
Quả thật, Thượng Đế của Ngươi là Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:192
وَإِنَّهُۥ لَتَنزِيلُ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Wa-ʹinnahoo la-Tañzeelu Rabbil ʻAalameen.
Quả thật, Nó (Qur’an) đích thực được Thượng Đế của vũ trụ ban xuống.
-
26:193
نَزَلَ بِهِ ٱلرُّوحُ ٱلْأَمِينُ
Nazala bihir Rooḥul ʹAmeen.
Do Ruh (đại Thiên Thần Jibril) đáng tin mang Nó xuống.
-
26:194
عَلَىٰ قَلْبِكَ لِتَكُونَ مِنَ ٱلْمُنذِرِينَ
ʻAlaa q̣albika litakoona minal muñẓireen.
Đặt vào con tim của Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) để Ngươi trở thành một Người cảnh báo.
-
26:195
بِلِسَانٍ عَرَبِىٍّ مُّبِينٍ
Bilisaanin ʻArabiyyim mubeen.
Bằng tiếng Ả-rập rõ ràng.
-
26:196
وَإِنَّهُۥ لَفِى زُبُرِ ٱلْأَوَّلِينَ
Wa-ʹinnahoo lafee Zuburil ʹawwaleen.
Nó quả thật đã được nhắc đến trong những Kinh Sách trước.
-
26:197
أَوَلَمْ يَكُن لَّهُمْ ءَايَةً أَن يَعْلَمَهُۥ عُلَمَـٰٓؤُا۟ بَنِىٓ إِسْرَٰٓءِيلَ
ʹAwalam yakul lahum ʹAayatan ʹañy yaʻlamahoo ʻulamaaaʹu Baneee ʹIsraaaʹeel?
Lẽ nào không có một dấu hiệu nào cho (những kẻ phủ nhận) trong khi các học giả của dân Israel biết rõ Nó?
-
26:198
وَلَوْ نَزَّلْنَـٰهُ عَلَىٰ بَعْضِ ٱلْأَعْجَمِينَ
Wa-law nazzalnaahu ʻalaa baʻḍil ʹaʻjameen,
Nếu TA thực sự đã thiên khải Nó xuống cho một số người không phải dân Ả-rập.
-
26:199
فَقَرَأَهُۥ عَلَيْهِم مَّا كَانُوا۟ بِهِۦ مُؤْمِنِينَ
Faq̣araʹahoo ʻalayhim maa kaanoo bihee muʹmineen.
Rồi y đọc lại cho họ nghe thì chắc rằng họ đã không tin vào Nó.
-
26:200
كَذَٰلِكَ سَلَكْنَـٰهُ فِى قُلُوبِ ٱلْمُجْرِمِينَ
Kaẓaalika salaknaahu fee q̣uloobil mujrimeen.
Bằng cách đó, TA đã làm nó (sự vô đức tin) thấm nhuần vào tim của những kẻ tội lỗi.
-
26:201
لَا يُؤْمِنُونَ بِهِۦ حَتَّىٰ يَرَوُا۟ ٱلْعَذَابَ ٱلْأَلِيمَ
Laa- yuʹminoona bihee ḥattaa yarawul ʻaẓabal ʹaleem;
Họ sẽ không tin tưởng Nó cho đến khi họ thấy được sự trừng phạt đau đớn.
-
26:202
فَيَأْتِيَهُم بَغْتَةً وَهُمْ لَا يَشْعُرُونَ
Fayaʹtiyahum̃ bag̣tatañw wahum laa- yashʻuroon.
Nó sẽ bất ngờ túm lấy họ trong lúc họ không hay biết.
-
26:203
فَيَقُولُوا۟ هَلْ نَحْنُ مُنظَرُونَ
Fayaq̣ooloo hal naḥnu muñz̤̣aroon.
Lúc đó họ sẽ nói: “Chúng tôi có được gia hạn thêm không?”
-
26:204
أَفَبِعَذَابِنَا يَسْتَعْجِلُونَ
ʹAfabiʻaẓaabinaa yastaʻjiloon?
Vậy sao họ lại hối thúc hình phạt mau đến?
-
26:205
أَفَرَءَيْتَ إِن مَّتَّعْنَـٰهُمْ سِنِينَ
ʹAfaraʹayta ʹim mattaʻnaahum sineen.
Há Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) có nhận thấy rằng việc TA cho họ hưởng lạc thêm nhiều năm nữa,
-
26:206
ثُمَّ جَآءَهُم مَّا كَانُوا۟ يُوعَدُونَ
S̤umma jaaaʹahum maa kaanoo yooʻadoon!
Rồi sau đó, hình phạt đã được hứa mới đến chụp bắt họ,
-
26:207
مَآ أَغْنَىٰ عَنْهُم مَّا كَانُوا۟ يُمَتَّعُونَ
Maaa ʹag̣naa ʻanhum maa kaanoo yumattaʻoon!
Thì việc hưởng thụ đó chẳng giúp ích gì cho họ cả?
-
26:208
وَمَآ أَهْلَكْنَا مِن قَرْيَةٍ إِلَّا لَهَا مُنذِرُونَ
Wa-maaa ʹahlaknaa miñ q̣aryatin ʹillaa lahaa muñẓiroon.
TA đã không tiêu diệt bất cứ ngôi làng nào ngoại trừ đã có những người đến cảnh báo nó.
-
26:209
ذِكْرَىٰ وَمَا كُنَّا ظَـٰلِمِينَ
Ẓikraa wa-maa kunnaa z̤̣aalimeen.
Như một sự nhắc nhở (đến cư dân của nó) bởi lẽ TA không hề bất công.
-
26:210
وَمَا تَنَزَّلَتْ بِهِ ٱلشَّيَـٰطِينُ
Wa-maa tanazzalat bihish shayaaṭeen;
(Qur’an) không phải do những tên Shaytan mang xuống.
-
26:211
وَمَا يَنۢبَغِى لَهُمْ وَمَا يَسْتَطِيعُونَ
Wa-maa yambag̣ee lahum wa-maa yastaṭeeʻoon.
Việc làm này không thích hợp cho chúng và chúng cũng không có khả năng (cho việc này).
-
26:212
إِنَّهُمْ عَنِ ٱلسَّمْعِ لَمَعْزُولُونَ
ʹInnahum ʻanis samʻi lamaʻzooloon.
Quả thật chúng đã bị đuổi ra xa không được cho nghe (Qur’an).
-
26:213
فَلَا تَدْعُ مَعَ ٱللَّهِ إِلَـٰهًا ءَاخَرَ فَتَكُونَ مِنَ ٱلْمُعَذَّبِينَ
Falaa tadʻu maʻal laahi ʹilaahan ʹaakhara fatakoona minal muʻaẓẓabeen.
Do đó, Ngươi chớ cầu nguyện bất cứ thần linh nào khác cùng với Allah, nếu không Ngươi sẽ cùng nhóm với đám người bị trừng phạt.
-
26:214
وَأَنذِرْ عَشِيرَتَكَ ٱلْأَقْرَبِينَ
Wa-ʹañẓir ʻasheeratakal ʹaq̣rabeen,
Ngươi (hỡi Thiên Sứ Muhammad) hãy cảnh báo họ hàng thân tộc của Ngươi.
-
26:215
وَٱخْفِضْ جَنَاحَكَ لِمَنِ ٱتَّبَعَكَ مِنَ ٱلْمُؤْمِنِينَ
Wakhfiḍ janaaḥaka limanit tabaʻaka minal Muʹmineen.
Ngươi hãy cư xử từ tốn và nhẹ nhàng với những người có đức tin theo Ngươi.
-
26:216
فَإِنْ عَصَوْكَ فَقُلْ إِنِّى بَرِىٓءٌ مِّمَّا تَعْمَلُونَ
Faʹin ʻaṣawka faq̣ul ʹinnee bareeeʹum mimmaa taʻmaloon!
Nếu họ bất tuân Ngươi thì Ngươi hãy nói: “Ta vô can với những điều các người làm.”
-
26:217
وَتَوَكَّلْ عَلَى ٱلْعَزِيزِ ٱلرَّحِيمِ
Wa-tawakkal ʻalal ʻAzeezir Raḥeem.
Ngươi hãy phó thác cho Đấng Quyền Lực, Nhân Từ.
-
26:218
ٱلَّذِى يَرَىٰكَ حِينَ تَقُومُ
ʹAllaẓee yaraaka ḥeena taq̣oom,
Đấng mà Ngài nhìn thấy Ngươi khi Ngươi đứng lễ nguyện Salah.
-
26:219
وَتَقَلُّبَكَ فِى ٱلسَّـٰجِدِينَ
Wa-taq̣allubaka fis saajideen.
(Ngài nhìn thấy Ngươi) cả lúc Ngươi đổi động tác cúi xuống quỳ lạy.
-
26:220
إِنَّهُۥ هُوَ ٱلسَّمِيعُ ٱلْعَلِيمُ
ʹInnahoo Huwas Sameeʻul ʻAleem.
Bởi Ngài đích thực là Đấng Hằng Nghe, Toàn Tri.
-
26:221
هَلْ أُنَبِّئُكُمْ عَلَىٰ مَن تَنَزَّلُ ٱلشَّيَـٰطِينُ
Hal ʹunabbiʹukum ʻalaa mañ tanazzalush shayaaṭeen?
Các ngươi có muốn TA nói cho biết ai là kẻ mà lũ Shaytan thường xuống gặp không?
-
26:222
تَنَزَّلُ عَلَىٰ كُلِّ أَفَّاكٍ أَثِيمٍ
Tanazzalu ʻalaa kulli ʹaffaakin ʹas̤eem,
(Shaytan) thường hay đến gặp những kẻ nói dối và tội lỗi.
-
26:223
يُلْقُونَ ٱلسَّمْعَ وَأَكْثَرُهُمْ كَـٰذِبُونَ
Yulq̣oonas samʻa wa-ʹaks̤aruhum kaaẓiboon.
Chúng nói lại những thứ nghe được nhưng đa phần là bịa đặt.[3]
-
26:224
وَٱلشُّعَرَآءُ يَتَّبِعُهُمُ ٱلْغَاوُۥنَ
Washshuʻaraaaʹu yattabiʻuhumul g̣aawoon:
Và chỉ những kẻ lầm lạc mới nghe theo những tên thi sĩ.
-
26:225
أَلَمْ تَرَ أَنَّهُمْ فِى كُلِّ وَادٍ يَهِيمُونَ
ʹAlam tara ʹannahum fee kulli waadiñy yaheemoon.
Lẽ nào Ngươi không thấy họ lang thang vơ vẩn trong mỗi thung lũng để ngâm thơ hay sao?
-
26:226
وَأَنَّهُمْ يَقُولُونَ مَا لَا يَفْعَلُونَ
Wa-ʹannahum yaq̣ooloona maa laa- yafʻaloon?
Quả thật, họ chỉ nói những điều họ không làm.
-
26:227
إِلَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُوا۟ وَعَمِلُوا۟ ٱلصَّـٰلِحَـٰتِ وَذَكَرُوا۟ ٱللَّهَ كَثِيرًا وَٱنتَصَرُوا۟ مِنۢ بَعْدِ مَا ظُلِمُوا۟ ۗ وَسَيَعْلَمُ ٱلَّذِينَ ظَلَمُوٓا۟ أَىَّ مُنقَلَبٍ يَنقَلِبُونَ
ʹIllal laẓeena ʹaamanoo wa-ʻamiluṣ ṣaaliḥaati waẓakarul laaha kas̤eerañw wañtaṣaroo mim baʻdi maa- z̤̣ulimoo. Wa-sayaʻlamul laz̤̣eena z̤̣alamooo ʹayya muñq̣alabiñy yañq̣aliboon!
Ngoại trừ (những thi sĩ) có đức tin, làm việc thiện tốt, tụng niệm Allah nhiều và đã giành được thắng lợi sau khi đã bị đối xử bất công. Và những kẻ sai quấy sẽ sớm biết đâu là nơi mà mình sẽ phải quay về.
Surah An-NamlBegins here at 27:1
-
27:1
طسٓ ۚ تِلْكَ ءَايَـٰتُ ٱلْقُرْءَانِ وَكِتَابٍ مُّبِينٍ
Ṭaa-Seeen. Tilka ʹAayaatul Q̣ur-ʹaani wa-kitaabim mubeen;
Ta. Sin.[1] Đây là những câu Kinh Qur’an, một Kinh Sách rõ ràng (không mơ hồ và thần bí).
-
27:2
هُدًى وَبُشْرَىٰ لِلْمُؤْمِنِينَ
Hudañw Wa-Bushraa lil-Muʹmineen,
Một nguồn Chỉ Đạo và tin mừng cho những người có đức tin.
-
27:3
ٱلَّذِينَ يُقِيمُونَ ٱلصَّلَوٰةَ وَيُؤْتُونَ ٱلزَّكَوٰةَ وَهُم بِٱلْـَٔاخِرَةِ هُمْ يُوقِنُونَ
ʹAllaẓeena yuq̣eemoonaṣ Ṣalaata wa-yuʹtoonaz Zakaata wa-hum̃ bil-ʹAakhirati hum yooq̣inoon.
Những ai chu đáo dâng lễ nguyện Salah, xuất Zakat và tin kiên định nơi cõi Đời Sau.
-
27:4
إِنَّ ٱلَّذِينَ لَا يُؤْمِنُونَ بِٱلْـَٔاخِرَةِ زَيَّنَّا لَهُمْ أَعْمَـٰلَهُمْ فَهُمْ يَعْمَهُونَ
ʹInnal laẓeena laa- yuʹminoona bil-ʹAakhirati Zayyannaa lahum ʹaʻmaalahum fahum yaʻmahoon.
Còn đối với những ai không có đức tin nơi cõi Đời Sau, TA (Allah) đã khiến cho việc làm của họ tỏ ra đẹp đẽ trong mắt của họ để họ cứ vẩn vơ lang thang.
-
27:5
أُو۟لَـٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ لَهُمْ سُوٓءُ ٱلْعَذَابِ وَهُمْ فِى ٱلْـَٔاخِرَةِ هُمُ ٱلْأَخْسَرُونَ
ʹUlaaaʹikal laẓeena lahum soooʹul ʻaẓaabi wa-hum fil ʹAakhirati humul ʹakhsaroon.
Những kẻ đó sẽ phải chịu một sự trừng phạt nhục nhã và họ sẽ là đám người thất bại thảm hại ở Đời Sau.
-
27:6
وَإِنَّكَ لَتُلَقَّى ٱلْقُرْءَانَ مِن لَّدُنْ حَكِيمٍ عَلِيمٍ
Wa-ʹinnaka latulaq̣q̣al Q̣ur-ʹaana mil ladun Ḥakeemin ʻAleem.
Quả thật Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) đã tiếp thu Qur’an từ Đấng Anh Minh, Toàn Tri.
-
27:7
إِذْ قَالَ مُوسَىٰ لِأَهْلِهِۦٓ إِنِّىٓ ءَانَسْتُ نَارًا سَـَٔاتِيكُم مِّنْهَا بِخَبَرٍ أَوْ ءَاتِيكُم بِشِهَابٍ قَبَسٍ لَّعَلَّكُمْ تَصْطَلُونَ
ʹIẓ q̣aala Moosaa liʹahliheee ʹinneee ʹaanastu naaraa; saʹaateekum minhaa bikhabarin ʹaw ʹaateekum̃ bishihaabiñ q̣abasil laʻallakum taṣṭaloon.
(Ngươi hãy nhớ lại) khi Musa bảo người nhà của Y: “Ta đã nhìn thấy một ngọn lửa ở đằng xa, Ta sẽ mang về cho các người tin tức từ chỗ ngọn lửa đó hoặc có thể Ta sẽ mang về cho các người một khúc củi cháy để các người sưởi ấm.”
-
27:8
فَلَمَّا جَآءَهَا نُودِىَ أَنۢ بُورِكَ مَن فِى ٱلنَّارِ وَمَنْ حَوْلَهَا وَسُبْحَـٰنَ ٱللَّهِ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Falammaa jaaaʹahaa noodiya ʹam boorika mañ fin Naari wa-man ḥawlahaa: wa-Subḥaanal laahi Rabbil ʻAalameen.
Rồi khi (Musa) đến chỗ ngọn lửa thì có tiếng gọi, bảo: “Phúc cho ai đang ở gần lửa và cho ai đang ở xung quanh nó; và quang vinh và trong sạch thay Allah, Thượng Đế của toàn vũ trụ và vạn vật.”
-
27:9
يَـٰمُوسَىٰٓ إِنَّهُۥٓ أَنَا ٱللَّهُ ٱلْعَزِيزُ ٱلْحَكِيمُ
Yaa-Moosaaa ʹinnahooo ʹAnal laahul ʻAzeezul Ḥakeem!
“Hỡi Musa, TA chính là Allah, Đấng Quyền Lực, Đấng Sáng Suốt.”
-
27:10
وَأَلْقِ عَصَاكَ ۚ فَلَمَّا رَءَاهَا تَهْتَزُّ كَأَنَّهَا جَآنٌّ وَلَّىٰ مُدْبِرًا وَلَمْ يُعَقِّبْ ۚ يَـٰمُوسَىٰ لَا تَخَفْ إِنِّى لَا يَخَافُ لَدَىَّ ٱلْمُرْسَلُونَ
Wa-ʹalq̣i ʻaṣaak! falammaa raʹaahaa tahtazzu kaʹannahaa jaaannuñw wallaa mudbirañw walam yuʻaq̣q̣ib yaa-Moosaa laa- takhaf: ʹinnee laa- yakhaafu ladayyal mursaloon,
“Ngươi hãy ném chiếc gậy của Ngươi xuống.” (Musa liền làm theo) nhưng khi thấy nó động đậy giống như một con rắn, Y liền bỏ chạy không dám quay lại nhìn. (TA – Allah phán bảo Y): “Hỡi Musa, Ngươi đừng hoảng sợ, bởi chưa từng có vị Thiên Sứ nào hoảng sợ trước mặt TA cả.”
-
27:11
إِلَّا مَن ظَلَمَ ثُمَّ بَدَّلَ حُسْنًۢا بَعْدَ سُوٓءٍ فَإِنِّى غَفُورٌ رَّحِيمٌ
ʹIllaa mañ z̤̣alama s̤umma baddala ḥusnam baʻda soooʹiñ faʹinnee G̣afoorur Raḥeem.
“Ngoại trừ những ai đã bất công với bản thân, tuy nhiên, sau đó họ làm điều thiện để chuộc lỗi lầm thì quả thật TA là Đấng Hằng Tha Thứ, Hằng Khoan Dung.”
-
27:12
وَأَدْخِلْ يَدَكَ فِى جَيْبِكَ تَخْرُجْ بَيْضَآءَ مِنْ غَيْرِ سُوٓءٍ ۖ فِى تِسْعِ ءَايَـٰتٍ إِلَىٰ فِرْعَوْنَ وَقَوْمِهِۦٓ ۚ إِنَّهُمْ كَانُوا۟ قَوْمًا فَـٰسِقِينَ
Wa-ʹadkhil yadaka fee jaybika takhruj bayḍaaaʹa min g̣ayri soooʹ: fee tisʻi ʹAayaatin ʹilaa Firʻawna wa-q̣awmih: ʹinnahum kaanoo q̣awmañ faasiq̣een.
“Ngươi hãy cho bàn tay Ngươi vào lồng ngực mình, khi rút ra bàn tay Ngươi sẽ trở nên trắng toát nhưng không phải là bệnh. Đó là một trong số chín phép lạ[2], Ngươi hãy mang đi trình bày cho Pha-ra-ông và đám thuộc hạ của hắn. Quả thật chúng là một đám người ương ngạnh, đại nghịch và bất tuân.”
-
27:13
فَلَمَّا جَآءَتْهُمْ ءَايَـٰتُنَا مُبْصِرَةً قَالُوا۟ هَـٰذَا سِحْرٌ مُّبِينٌ
Falammaa jaaaʹathum ʹAayaatunaa mubṣiratañ q̣aaloo haaẓaa siḥrum mubeen!
Nhưng khi những phép lạ của TA được mang đến cho chúng để chúng tận mắt chứng kiến thì chúng bảo: “Đây rõ ràng là một trò ảo thuật!”
-
27:14
وَجَحَدُوا۟ بِهَا وَٱسْتَيْقَنَتْهَآ أَنفُسُهُمْ ظُلْمًا وَعُلُوًّا ۚ فَٱنظُرْ كَيْفَ كَانَ عَـٰقِبَةُ ٱلْمُفْسِدِينَ
Wa-jaḥadoo bihaa wastayq̣anathaaa ʹañfusuhum z̤̣ulmañw waʻuluwwaa; fañz̤̣ur kayfa kaana ʻaaq̣ibatul mufsideen!
Chúng đã chống đối và ngạo mạn mặc dù trong thâm tâm chúng đã thừa nhận (các phép lạ đó là sự thật). Bởi vậy, Ngươi hãy nhìn xem những kẻ thối nát đã gặp phải hậu quả như thế nào.
-
27:15
وَلَقَدْ ءَاتَيْنَا دَاوُۥدَ وَسُلَيْمَـٰنَ عِلْمًا ۖ وَقَالَا ٱلْحَمْدُ لِلَّهِ ٱلَّذِى فَضَّلَنَا عَلَىٰ كَثِيرٍ مِّنْ عِبَادِهِ ٱلْمُؤْمِنِينَ
Wa-laq̣ad ʹaataynaa Daawooda wa-Sulaymaana ʻilmaa: Wa-q̣aalal Ḥamdu lil-laahil laẓee faḍḍalnaa ʻalaa kas̤eerim min ʻibaadihil Muʹmineen!
Quả thật, TA đã ban cho Dawood (David) và Sulayman (Solomon) nguồn kiến thức, và cả hai nói: Alhamdulillah, Đấng đã ưu đãi bầy tôi nhiều hơn đám bề tôi có đức tin khác của Ngài.”
-
27:16
وَوَرِثَ سُلَيْمَـٰنُ دَاوُۥدَ ۖ وَقَالَ يَـٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ عُلِّمْنَا مَنطِقَ ٱلطَّيْرِ وَأُوتِينَا مِن كُلِّ شَىْءٍ ۖ إِنَّ هَـٰذَا لَهُوَ ٱلْفَضْلُ ٱلْمُبِينُ
Wa-waris̤a Sulaymaanu Daawooda wa-q̣aala yaaaʹayyuhan naasu ʻullimnaa Mañṭiq̣aṭ Ṭayri wa-ʹooteenaa miñ kulli shayʹ: ʹinna haaẓaa lahuwal Faḍlul mubeen.
Sulayman đã kế thừa Dawood, Y bảo: “Hỡi nhân loại, Ta đã được dạy cho kiến thức về tiếng nói của loài chim và đã được ban cho đủ mọi thứ và đây rõ ràng là một hồng phúc.”
-
27:17
وَحُشِرَ لِسُلَيْمَـٰنَ جُنُودُهُۥ مِنَ ٱلْجِنِّ وَٱلْإِنسِ وَٱلطَّيْرِ فَهُمْ يُوزَعُونَ
Wa-ḥushira li-Sulaymaana junooduhoo minal jinni wal-ʹiñsi waṭṭayri fahum yoozaʹoon;
Đoàn quân của Sulayman gồm Jinn, con người và chim chóc đã được triệu tập trước mặt Y theo đội ngũ chỉnh tề.
-
27:18
حَتَّىٰٓ إِذَآ أَتَوْا۟ عَلَىٰ وَادِ ٱلنَّمْلِ قَالَتْ نَمْلَةٌ يَـٰٓأَيُّهَا ٱلنَّمْلُ ٱدْخُلُوا۟ مَسَـٰكِنَكُمْ لَا يَحْطِمَنَّكُمْ سُلَيْمَـٰنُ وَجُنُودُهُۥ وَهُمْ لَا يَشْعُرُونَ
Ḥattaaa ʹiẓaaa ʹataw ʻalaa Waadin namli q̣aalat namlatuñy yaaaʹayyuhan namlud khuloo masaakinakum, laa- yaḥṭimannakum Sulaymaanu wa-junooduhoo wahum laa- yashʻuroon.
Khi đoàn quân đến một thung lũng của loài kiến (thuộc địa phận của Sham), một con kiến lên tiếng: “Hỡi loài kiến, các ngươi hãy mau lui vào chỗ ở của các ngươi kẻo Sulayman và đoàn quân của Người (vô tình) giẫm nát các ngươi trong lúc họ không hề hay biết.”
-
27:19
فَتَبَسَّمَ ضَاحِكًا مِّن قَوْلِهَا وَقَالَ رَبِّ أَوْزِعْنِىٓ أَنْ أَشْكُرَ نِعْمَتَكَ ٱلَّتِىٓ أَنْعَمْتَ عَلَىَّ وَعَلَىٰ وَٰلِدَىَّ وَأَنْ أَعْمَلَ صَـٰلِحًا تَرْضَىٰهُ وَأَدْخِلْنِى بِرَحْمَتِكَ فِى عِبَادِكَ ٱلصَّـٰلِحِينَ
Fatabassama ḍaaḥikam miñ q̣awlihaa wa-q̣aala Rabbi ʹawziʻneee ʹan ʹashkura niʻmatakal lateee ʹanʻamta ʻalayya wa-ʻalaa waalidayya wa-ʹan ʹaʻmala ṣaaliḥañ tarḍaahu wa-ʹadkhilnee bi-Raḥmatika fee ʻibaadikaṣ ṣaaliḥeen.
Lấy làm vui thích trước lời nói của kiến, Sulayman mỉm cười và khấn vái: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài hãy khiến cho bề tôi biết tạ ơn Ngài về những ân huệ mà Ngài đã ban cho bề tôi, cho cha mẹ của bề tôi, hãy khiến bề tôi làm việc thiện hồng làm hài lòng Ngài và xin lấy đức khoan dung của Ngài mà thâu nhận bề tôi vào đám bầy tôi sùng đạo của Ngài.”
-
27:20
وَتَفَقَّدَ ٱلطَّيْرَ فَقَالَ مَا لِىَ لَآ أَرَى ٱلْهُدْهُدَ أَمْ كَانَ مِنَ ٱلْغَآئِبِينَ
Wa-tafaq̣q̣adaṭ Ṭayra faq̣aala maa- liya laaa ʹar al-Hudhuda ʹam kaana minal g̣aaaʹibeen?
Rồi khi (Sulayman) kiểm tra đoàn chim, Y bảo: “Sao Ta không thấy con Hudhud[3] đâu cả, phải chăng nó vắng mặt?”
-
27:21
لَأُعَذِّبَنَّهُۥ عَذَابًا شَدِيدًا أَوْ لَأَا۟ذْبَحَنَّهُۥٓ أَوْ لَيَأْتِيَنِّى بِسُلْطَـٰنٍ مُّبِينٍ
Laʹuʻaẓẓibannahoo ʻaẓaabañ shadeedan ʹaw laʹaẓbaḥannahooo ʹaw layaʹtiyannee bisulṭaanim mubeen.
“Ta chắc chắn sẽ phạt nó thật nặng hoặc Ta sẽ giết nó hoặc nó sẽ phải cho Ta biết lý do rõ ràng (về việc nó đã vắng mặt).”
-
27:22
فَمَكَثَ غَيْرَ بَعِيدٍ فَقَالَ أَحَطتُ بِمَا لَمْ تُحِطْ بِهِۦ وَجِئْتُكَ مِن سَبَإٍۭ بِنَبَإٍ يَقِينٍ
Famakas̤a g̣ayra baʻeediñ faq̣aala ʹaḥatu bimaa lam tuḥiṭ bihee wa-jiʹtuka miñ Sabaʹim binabaʹiñy yaq̣een.
Không dám chậm trễ, con chim liền vội vàng bay về thưa (với Sulayman): “Hạ thần đã phát hiện ra một điều mà bệ hạ chưa biết và hạ thần đã mang về cho bệ hạ một nguồn tin chắc chắn từ xứ Saba' (Sheba).”
-
27:23
إِنِّى وَجَدتُّ ٱمْرَأَةً تَمْلِكُهُمْ وَأُوتِيَتْ مِن كُلِّ شَىْءٍ وَلَهَا عَرْشٌ عَظِيمٌ
ʹInnee wa-jattum raʹatañ tamlikuhum wa-ʹootiyat miñ kulli shayʹiñw walahaa ʻarshun ʻaz̤̣eem.
“Hạ thần đã phát hiện thấy có một nữ vương cai trị dân chúng, nữ vương đó đã được cung phụng đầy đủ mọi thứ và làm chủ một ngai vương vĩ đại.”
-
27:24
وَجَدتُّهَا وَقَوْمَهَا يَسْجُدُونَ لِلشَّمْسِ مِن دُونِ ٱللَّهِ وَزَيَّنَ لَهُمُ ٱلشَّيْطَـٰنُ أَعْمَـٰلَهُمْ فَصَدَّهُمْ عَنِ ٱلسَّبِيلِ فَهُمْ لَا يَهْتَدُونَ
Wa-jattuhaa wa-q̣awmahaa yasjudoona lishshamsi miñ doonil laahi wa-zayyana lahumush Shayṭaanu ʹaʻmaalahum faṣaddahum ʻanis Sabeeli fahum laa- yahtadoon;
“Hạ thần thấy nữ vương đó cùng dân chúng của mình quỳ lạy mặt trời thay vì Allah. Shaytan đã quyến rũ họ khiến họ thích thú với việc làm của mình, hắn đã ngăn cản họ xa lánh con đường Chân Lý nên họ không được hướng dẫn.”
-
27:25
أَلَّا يَسْجُدُوا۟ لِلَّهِ ٱلَّذِى يُخْرِجُ ٱلْخَبْءَ فِى ٱلسَّمَـٰوَٰتِ وَٱلْأَرْضِ وَيَعْلَمُ مَا تُخْفُونَ وَمَا تُعْلِنُونَ
ʹAllaa yasjudoo lillaahil laẓee yukhrijul khabʹa fis samaawaati wal-ʹarḍi wayaʻlamu maa- tukhfoona wa-maa tuʻlinoon.
“Để họ không quỳ lạy Allah, Đấng trưng bày những điều bí mật trong các tầng trời và trái đất, Đấng biết rõ mọi điều quí ngài giấu kín cũng như những điều quí ngài phơi bày.”
-
27:26
ٱللَّهُ لَآ إِلَـٰهَ إِلَّا هُوَ رَبُّ ٱلْعَرْشِ ٱلْعَظِيمِ ۩
ʹAllaahu laaa ʹilaaha ʹillaa Huwa Rabbul ʻArshil ʻAz̤̣eem!
“Allah là Đấng mà Không có Thượng Đế (đích thực) nào khác ngoài Ngài. Ngài là Đấng Chủ Nhân của chiếc Ngai Vương vĩ đại.”
-
27:27
۞ قَالَ سَنَنظُرُ أَصَدَقْتَ أَمْ كُنتَ مِنَ ٱلْكَـٰذِبِينَ
Q̣aala sanañz̤̣uru ʹaṣadaq̣ta ʹam kuñta minal kaaẓibeen!
(Sulayman) nói với (con Hudhud): “Ta sẽ xem nhà ngươi nói thật hay nhà ngươi là một tên nói dối.”
-
27:28
ٱذْهَب بِّكِتَـٰبِى هَـٰذَا فَأَلْقِهْ إِلَيْهِمْ ثُمَّ تَوَلَّ عَنْهُمْ فَٱنظُرْ مَاذَا يَرْجِعُونَ
ʹIẓhab bi-Kitaabee haaẓaa faʹalq̣ih ʹilayhim s̤umma tawalla ʻanhum fañz̤̣ur maaẓaa yarjiʻoon.
“Nhà ngươi hãy mang bức thư này của Ta ném cho họ rồi lánh sang một bên để lắng nghe họ phúc đáp điều gì (về bức thư của Ta).”
-
27:29
قَالَتْ يَـٰٓأَيُّهَا ٱلْمَلَؤُا۟ إِنِّىٓ أُلْقِىَ إِلَىَّ كِتَـٰبٌ كَرِيمٌ
Q̣aalat yaaʹayyuhal malaʹu ʹinneee ʹulq̣iya ʹilayya kitaabuñ kareem.
(Nữ Vương nhận được bức thư) bảo: “Hỡi các tướng lĩnh, trẫm vừa nhận được một bức thư khả kính.”
-
27:30
إِنَّهُۥ مِن سُلَيْمَـٰنَ وَإِنَّهُۥ بِسْمِ ٱللَّهِ ٱلرَّحْمَـٰنِ ٱلرَّحِيمِ
ʹInnahoo miñ Sulaymaana wa-ʹinnahoo ˹Bismil laahir Raḥmaanir Raḥeem:˺
“Nó đến từ Sulayman, nó bắt đầu bằng câu: Bismillahir rohmanir rohim (Nhân Danh Allah, Đấng Độ Lượng, Đấng Khoan Dung)”.
-
27:31
أَلَّا تَعْلُوا۟ عَلَىَّ وَأْتُونِى مُسْلِمِينَ
ʹAllaa taʻloo ʻalayya waʹ-toonee Muslimeen.
“(Nội dung của nó:) Các ngươi chớ cao ngạo đối với Ta và hãy đến trình diện Ta như một người Muslim (thần phục Allah).”
-
27:32
قَالَتْ يَـٰٓأَيُّهَا ٱلْمَلَؤُا۟ أَفْتُونِى فِىٓ أَمْرِى مَا كُنتُ قَاطِعَةً أَمْرًا حَتَّىٰ تَشْهَدُونِ
Q̣aalat yaaaʹayyuhal malaʹu aftoonee feee ʹamree: maa- kuñtu q̣aaṭiʻatan ʹamran ḥattaa tashhadoon.
(Nữ Vương) nói (với các chư thần): “Hỡi các chư khanh, các chư khanh hãy cố vấn cho trẫm trong sự việc này. Trẫm không hề tự quyết định lấy bất kỳ sự việc nào mà không có mặt của các khanh cả.”
-
27:33
قَالُوا۟ نَحْنُ أُو۟لُوا۟ قُوَّةٍ وَأُو۟لُوا۟ بَأْسٍ شَدِيدٍ وَٱلْأَمْرُ إِلَيْكِ فَٱنظُرِى مَاذَا تَأْمُرِينَ
Q̣aaloo naḥnu ʹuloo q̣uwwatiñw waʹuloo baʹsiñ shadeed: wal-ʹamru ʹilayki fañz̤̣uree maaẓaa taʹmureen.
(Các quần thần) tâu: “Chúng ta vốn hùng mạnh, dày dặn kinh nghiệm chinh chiến, tuy nhiên, quyền quyết định là ở nơi bệ hạ. Xin bệ hạ xem xét mà ra lệnh.”
-
27:34
قَالَتْ إِنَّ ٱلْمُلُوكَ إِذَا دَخَلُوا۟ قَرْيَةً أَفْسَدُوهَا وَجَعَلُوٓا۟ أَعِزَّةَ أَهْلِهَآ أَذِلَّةً ۖ وَكَذَٰلِكَ يَفْعَلُونَ
Q̣aalat ʹinnal mulooka ʹiẓaa dakhaloo q̣aryatan ʹafsadoohaa wa-jaʻalooo ʹaʻizzata ʹahlihaaa ʹaẓillah: wa-kaẓaalika yafʻaloon.
(Nữ Vương) bảo: “(Theo trẫm thấy), các vua chúa khi tiến vào một thị trấn nào đó (với ý định xâm lăng) thì họ sẽ tàn phá nó và bắt những người quyền thế nhất của nó xuống làm thứ dân thấp hèn nhất. Họ luôn làm như vậy (khi đã chiếm được nó).”
-
27:35
وَإِنِّى مُرْسِلَةٌ إِلَيْهِم بِهَدِيَّةٍ فَنَاظِرَةٌۢ بِمَ يَرْجِعُ ٱلْمُرْسَلُونَ
Wa-ʹinnee mursilatun ʹilayhim bihadiyyatiñ fanaaz̤̣iratum bima yarjiʻul mursaloon.
“Trẫm quyết định sai sứ thần mang lễ vật đi triều cống họ và đợi xem các sứ thần sẽ mang điều phúc đáp gì trở về.”
-
27:36
فَلَمَّا جَآءَ سُلَيْمَـٰنَ قَالَ أَتُمِدُّونَنِ بِمَالٍ فَمَآ ءَاتَىٰنِۦَ ٱللَّهُ خَيْرٌ مِّمَّآ ءَاتَىٰكُم بَلْ أَنتُم بِهَدِيَّتِكُمْ تَفْرَحُونَ
Falammaa jaaaʹa Sulaymaana q̣aala ʹatumiddoonani bimaal? Famaaa ʹaataaniyal laahu khayrum mimmaaa ʹaataakum! Bal ʹañtum̃ bihadiyyatikum tafraḥoon!
Khi các sứ thần đến yết kiến Sulayman, Y bảo họ: “Các ngươi định làm cho Ta giàu thêm chăng? Những gì Allah ban cho Ta tốt hơn những thứ Ngài ban cho các ngươi. Chắc các ngươi lấy làm vui thích với những cống vật của các ngươi lắm?”
-
27:37
ٱرْجِعْ إِلَيْهِمْ فَلَنَأْتِيَنَّهُم بِجُنُودٍ لَّا قِبَلَ لَهُم بِهَا وَلَنُخْرِجَنَّهُم مِّنْهَآ أَذِلَّةً وَهُمْ صَـٰغِرُونَ
ʹIrjiʻ ʹilayhim falanaʹtiyannahum̃ bijunoodil laa q̣ibala lahum̃ bihaa wa-lanukhrijannahum minhaaa ʹaẓillatañw Wahum ṣaag̣iroon.
“Các ngươi hãy trở về tâu lại với họ, Ta sẽ đem quân đến hỏi tội họ và chắc chắn họ sẽ không bao giờ địch nổi, Ta sẽ đuổi họ ra khỏi nơi đó một cách nhục nhã và chắc chắn họ sẽ phải quy hàng một cách hèn hạ.”
-
27:38
قَالَ يَـٰٓأَيُّهَا ٱلْمَلَؤُا۟ أَيُّكُمْ يَأْتِينِى بِعَرْشِهَا قَبْلَ أَن يَأْتُونِى مُسْلِمِينَ
Q̣aala yaaaʹayyuhal malaʹu ʹayyukum yaʹteenee biʻarshihaa q̣abla ʹañy yaʹtoonee muslimeen?
(Sulayman) hỏi (các tướng chỉ huy các đoàn quân): “Hỡi các tướng lĩnh, ai trong các ngươi có thể mang ngai vàng của nữ vương kia đến cho Ta trước khi họ đến qui hàng Ta?”
-
27:39
قَالَ عِفْرِيتٌ مِّنَ ٱلْجِنِّ أَنَا۠ ءَاتِيكَ بِهِۦ قَبْلَ أَن تَقُومَ مِن مَّقَامِكَ ۖ وَإِنِّى عَلَيْهِ لَقَوِىٌّ أَمِينٌ
Q̣aala ʻIfreetum minal jinni ʹana ʹaateeka bihee q̣abla ʹañ taq̣ooma mim maq̣aamik: wa-ʹinnee ʻalayhi laq̣awiyyun ʹameen.
(Sulayman vừa dứt lời) thì ‘Ifrit, một tên thuộc loài Jinn liền tâu: “Hạ thần sẽ mang nó về cho bệ hạ trước khi bệ hạ rời khỏi chỗ ngồi của bệ hạ. Hạ thần thực sự đủ mạnh và đáng tin cho việc đó.”
-
27:40
قَالَ ٱلَّذِى عِندَهُۥ عِلْمٌ مِّنَ ٱلْكِتَـٰبِ أَنَا۠ ءَاتِيكَ بِهِۦ قَبْلَ أَن يَرْتَدَّ إِلَيْكَ طَرْفُكَ ۚ فَلَمَّا رَءَاهُ مُسْتَقِرًّا عِندَهُۥ قَالَ هَـٰذَا مِن فَضْلِ رَبِّى لِيَبْلُوَنِىٓ ءَأَشْكُرُ أَمْ أَكْفُرُ ۖ وَمَن شَكَرَ فَإِنَّمَا يَشْكُرُ لِنَفْسِهِۦ ۖ وَمَن كَفَرَ فَإِنَّ رَبِّى غَنِىٌّ كَرِيمٌ
Q̣aalal laẓee ʻiñdahoo ʻilmum minal Kitaabi ʹana ʹaateeka bihee q̣abla ʹañy yartadda ʹilayka ṭarfuk! Falammaa raʹaahu mustaq̣irran ʻiñdahoo q̣aala haaẓaa miñ faḍli Rabbee liyabluwaneee ʹaʹashkuru ʹam ʹakfur! Wa-mañ shakara faʹinnamaa yashkuru linafsih; wa-mañ kafara faʹinna Rabbee G̣aniyyuñ Kareem!...
(Ngay lúc đó), một người (ngoan đạo) thông thạo Kinh Sách[4] cũng liền tâu (với Sulayman): “Hạ thần sẽ mang nó về cho bệ hạ chỉ trong nháy mắt.” Bởi thế, khi (Sulayman) thấy (chiếc ngai vương) được đặt ngay trước mặt mình, Y bảo: “Đây quả thật là một thiên ân mà Thượng Đế của Ta dùng để thử thách xem Ta là một người biết ơn hay là một kẻ bội ơn. Bởi ai biết tạ ơn thì việc tạ ơn đó chỉ có lợi cho bản thân mình; ngược lại, ai bội ơn thì Thượng Đế của Ta vẫn luôn giàu có và quảng đại.”
-
27:41
قَالَ نَكِّرُوا۟ لَهَا عَرْشَهَا نَنظُرْ أَتَهْتَدِىٓ أَمْ تَكُونُ مِنَ ٱلَّذِينَ لَا يَهْتَدُونَ
Q̣aala nakkiroo lahaa ʻarshahaa nañz̤̣ur ʹatahtadeee ʹam takoonu minal laẓeena laa- yahtadoon.
(Sulayman) bảo (các chư thần): “Các ngươi hãy cải trang ngai vương của nữ ta để xem nữ ta có nhận ra được nó hay không?”
-
27:42
فَلَمَّا جَآءَتْ قِيلَ أَهَـٰكَذَا عَرْشُكِ ۖ قَالَتْ كَأَنَّهُۥ هُوَ ۚ وَأُوتِينَا ٱلْعِلْمَ مِن قَبْلِهَا وَكُنَّا مُسْلِمِينَ
Falammaa jaaaʹat q̣eela ʹahaakaẓaa ʻarshuk? Q̣aalat kaʹannahoo hoo; wa-ʹooteenal ʻilma miñ q̣ablihaa wa-kunnaa Muslimeen.
Khi nữ vương đến yết kiến, (Suylayman) liền hỏi: “Có phải ngai vương của nàng như thế này đúng không?” Nữ vương đáp: “Dường như chính là nó.” (Sulayman) bảo: “Ta (và thần dân của ta) đã được ban cho kiến thức trước nàng và (tất cả bọn ta đều) là những người Muslim (thần phục Allah).”
-
27:43
وَصَدَّهَا مَا كَانَت تَّعْبُدُ مِن دُونِ ٱللَّهِ ۖ إِنَّهَا كَانَتْ مِن قَوْمٍ كَـٰفِرِينَ
Waṣaddahaa maa- kaanat taʻbudu miñ doonil laah: ʹinnahaa kaanat miñ q̣awmiñ kaafireen.
Quả thật những thứ mà nữ vương này đã từng thờ phượng ngoài Allah đã cản trở nữ ta khiến nữ ta trở thành một trong nhóm người vô đức tin.
-
27:44
قِيلَ لَهَا ٱدْخُلِى ٱلصَّرْحَ ۖ فَلَمَّا رَأَتْهُ حَسِبَتْهُ لُجَّةً وَكَشَفَتْ عَن سَاقَيْهَا ۚ قَالَ إِنَّهُۥ صَرْحٌ مُّمَرَّدٌ مِّن قَوَارِيرَ ۗ قَالَتْ رَبِّ إِنِّى ظَلَمْتُ نَفْسِى وَأَسْلَمْتُ مَعَ سُلَيْمَـٰنَ لِلَّهِ رَبِّ ٱلْعَـٰلَمِينَ
Q̣eela lahad khuliṣ ṣarḥ: falammaaنَ raʹathu ḥasibathu lujjatañw wakashafat ʻañ saaq̣ayhaa. Q̣aala ʹinnahoo ṣarḥum mumarradum miñ q̣awaareer. Q̣aalat Rabbi ʹinnee z̤̣alamtu nafsee wa-ʹaslamtu maʻa Sulaymaana lillaahi Rabbil ʻAalameen.
Rồi có lời nghinh đón nữ ta: “Xin mời nữ vương bước vào cung điện.” Khi nhìn thấy (phần nền của cung điện), nữ ta cứ ngỡ đó là một hồ nước nên đã vén váy lên làm lộ ra cẳng chân của mình. (Sulayman) bảo: “Đây là một cung điện được lót bằng pha lê.” Nữ ta thốt lên: “Lạy Thượng Đế của bề tôi, bề tôi đã bất công với chính bản thân mình, giờ bề tôi xin nguyện cùng với Sulayman thần phục Allah, Thượng Đế của vũ trụ và vạn vật.”
-
27:45
وَلَقَدْ أَرْسَلْنَآ إِلَىٰ ثَمُودَ أَخَاهُمْ صَـٰلِحًا أَنِ ٱعْبُدُوا۟ ٱللَّهَ فَإِذَا هُمْ فَرِيقَانِ يَخْتَصِمُونَ
Wa-laq̣ad ʹarsalnaaa ʹilaa S̤amooda ʹakhaahum Ṣaaliḥan ʹaniʻ budul laaha faʹiẓaa hum fareeq̣aani yakhtaṣimoon.
Quả thật trước đây, TA (Allah) đã cử đến với người dân Thamud người anh em của họ, Saleh, Y bảo họ: “Các người hãy thờ phượng Allah.” Nhưng lúc đó họ chia thành hai nhóm tranh chấp nhau.
-
27:46
قَالَ يَـٰقَوْمِ لِمَ تَسْتَعْجِلُونَ بِٱلسَّيِّئَةِ قَبْلَ ٱلْحَسَنَةِ ۖ لَوْلَا تَسْتَغْفِرُونَ ٱللَّهَ لَعَلَّكُمْ تُرْحَمُونَ
Q̣aala yaa-q̣awmi lima tastaʻjiloona bissayyiʹati q̣ablal ḥasanah? Law-laa tas-tag̣firoonal laaha laʻallakum turḥamoon.
(Saleh) bảo: “Hỡi dân Ta, sao các người lại cứ hối thúc điều dữ đến trước điều lành? Đáng lẽ ra các người nên cầu xin Allah tha thứ để may ra các người được khoan dung.”
-
27:47
قَالُوا۟ ٱطَّيَّرْنَا بِكَ وَبِمَن مَّعَكَ ۚ قَالَ طَـٰٓئِرُكُمْ عِندَ ٱللَّهِ ۖ بَلْ أَنتُمْ قَوْمٌ تُفْتَنُونَ
Q̣aaluṭ ṭayyarnaa bika wa-bimam maʻak. Q̣aala ṭaaaʹirukum ʻiñdal laahi bal ʹañtum q̣awmuñ tuftanoon.
Họ (đáp trả lời kêu gọi của Saleh), nói: “Bọn ta được báo rằng Ngươi và những ai cùng Ngươi là một điềm xấu.” (Saleh) bảo họ: “Điềm xấu của các người là do Allah quyết định. Không, các người là một đám người đang bị thử thách.”
-
27:48
وَكَانَ فِى ٱلْمَدِينَةِ تِسْعَةُ رَهْطٍ يُفْسِدُونَ فِى ٱلْأَرْضِ وَلَا يُصْلِحُونَ
Wa-kaana fil madeenati tisʻatu rahṭiñy yufsidoona fil ʹarḍi wa-laa yuṣliḥoon.
Và trong thành phố, có chín người thường hay làm điều thối nát khắp nơi nhưng không chịu sửa mình.
-
27:49
قَالُوا۟ تَقَاسَمُوا۟ بِٱللَّهِ لَنُبَيِّتَنَّهُۥ وَأَهْلَهُۥ ثُمَّ لَنَقُولَنَّ لِوَلِيِّهِۦ مَا شَهِدْنَا مَهْلِكَ أَهْلِهِۦ وَإِنَّا لَصَـٰدِقُونَ
Q̣aaloo taq̣aasamoo billaahi lanubayyitannahoo wa-ʹahlahoo s̤umma lanaq̣oolanna liwaliyyihee maa- shahidnaa mahlika ʹahlihee wa-ʹinnaa laṣaadiq̣oon.
Những kẻ đó bảo: “Chúng ta hãy cùng nhau thề với Allah rằng chúng ta nhất định sẽ giết (Saleh) và gia đình của Y vào ban đêm, rồi chúng ta sẽ nói với người thừa kế của Y rằng chúng ta không hề biết gì đến việc gia đình Y bị thủ tiêu và chúng ta hoàn toàn nói thật.”
-
27:50
وَمَكَرُوا۟ مَكْرًا وَمَكَرْنَا مَكْرًا وَهُمْ لَا يَشْعُرُونَ
Wa-makaroo makrañw wamakarnaa makrañw wahum laa- yashʻuroon.
Chúng đã mưu toan một kế hoạch và TA cũng đã sắp đặt một kế hoạch trong lúc chúng không hề hay biết.
-
27:51
فَٱنظُرْ كَيْفَ كَانَ عَـٰقِبَةُ مَكْرِهِمْ أَنَّا دَمَّرْنَـٰهُمْ وَقَوْمَهُمْ أَجْمَعِينَ
Fañz̤̣ur kayfa kaana ʻaaq̣ibatu makrihim ʹannaa dammarnaahum wa-q̣awmahum ʹajmaʻeen.
Ngươi (Thiên Sứ Muhammad) hãy xem mưu đồ của chúng đã để lại kết cuộc cho chúng như thế nào, chẳng phải TA đã tiêu diệt chúng và toàn bộ đám dân của chúng đó sao?!
-
27:52
فَتِلْكَ بُيُوتُهُمْ خَاوِيَةًۢ بِمَا ظَلَمُوٓا۟ ۗ إِنَّ فِى ذَٰلِكَ لَـَٔايَةً لِّقَوْمٍ يَعْلَمُونَ
Fatilka buyootuhum khaawiyatam bimaa z̤̣alamoo. ʹInna fee ẓaalika laʹAayatal liq̣awmiñy yaʻlamoon.
Đó, nhà cửa của chúng đã trở nên hoang tàn vì những điều sai trái mà chúng đã làm. Quả thật trong sự việc đó là một bài học cho đám người hiểu biết.
-
27:53
وَأَنجَيْنَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُوا۟ وَكَانُوا۟ يَتَّقُونَ
Wa-ʹañjaynal laẓeena ʹaamanoo wa-kaanoo yattaq̣oon.
Và TA (Allah) đã giải cứu những người có đức tin bởi họ là những người ngoan đạo biết sợ TA.
-
27:54
وَلُوطًا إِذْ قَالَ لِقَوْمِهِۦٓ أَتَأْتُونَ ٱلْفَـٰحِشَةَ وَأَنتُمْ تُبْصِرُونَ
Wa-Looṭan ʹiẓ q̣aala liq̣awmiheee ʹataʹtoonal faa-ḥishata wa-ʹañtum tubṣiroon?
Và khi Lut bảo người dân mình: “Lẽ nào các người làm điều ô uế trong lúc các người vẫn còn nhận thức được (điều phải trái)?”
-
27:55
أَئِنَّكُمْ لَتَأْتُونَ ٱلرِّجَالَ شَهْوَةً مِّن دُونِ ٱلنِّسَآءِ ۚ بَلْ أَنتُمْ قَوْمٌ تَجْهَلُونَ
ʹAʹinnakum lataʹtoonar rijaala shahwatam miñ doonin nisaaaʹ? Bal ʹañtum q̣awmuñ tajhaloon!
“Sao các người lại tìm đến đàn ông để giải tỏa nhục dục thay vì với phụ nữ. Không, các người thực sự là một đám người ngu muội.”